VÀI SUY NGHĨ VỀ
CHƯƠNG TR̀NH SÁCH GIÁO KHOA NGỮ VĂN LỚP 11
ĐẶT TRONG MỐI QUAN HỆ ĐẾN VIỆC
DẠY VÀ HỌC MÔN VĂN HỌC VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 1900 - 1930 Ở
ĐẠI HỌC
Ths.
Huỳnh Thị Lan Phương
1. ĐẶT VẤN
ĐỀ
Văn học Việt Nam hiện
đại là một phân môn quan trọng, cần thiết
trong chương tŕnh đào tạo của ngành Ngữ
văn ở trường Đại học (ĐH). Nó không
chỉ trang bị cho sinh viên những kiến thức
cần thiết để phục vụ lâu dài cho công tác
giảng dạy, nghiên cứu sau khi ra trường, mà c̣n
đem đến cho sinh viên những hiểu biết quư giá
để có thể nắm bắt đầy đủ các
vấn đề về lịch sử phát triển của
văn học Việt Nam.Thế nhưng, việc học và
kết quả học tập của sinh viên hăy c̣n nhiều
điều cần được quan tâm và suy nghĩ. Không
chỉ đối với người học mà cả
với những ai đang giảng dạy môn văn học
Việt Nam hiện đại, đặc biệt là văn
học giai đoạn 1900-1930. Hiện nay, các trường
ĐH đang tiến hành chuyển đổi chương
tŕnh đào tạo theo học chế tín chỉ. Thời
lượng bị rút ngắn trong khi vẫn phải
đảm bảo dung lượng, đó là bài toán không
đơn giản khi đi t́m cách giải, mà cũng là
nỗi băn khoăn của không ít giảng viên, sinh viên.
Điều này khiến chúng ta càng trăn trở nhiều
hơn cho vấn đề kết quả, chất
lượng học tập, giảng dạy nói chung và
kết quả, chất lượng học tập môn
văn học Việt Nam hiện đại nói riêng.
Kiến thức văn
học được trang bị ở bậc phổ thông
(PT) là nền tảng vững chắc cho sinh viên theo ngành
Ngữ văn ở bậc ĐH. Đồng thời,
chương tŕnh ở PT sẽ góp phần định
hướng nội dung cần t́m hiểu, nghiên cứu,
học tập nhằm chuẩn bị cho việc giảng
dạy về sau của sinh viên sư phạm ngay từ khi
c̣n ngồi trên ghế nhà trường ĐH. V́ thế,
nội dung chưong tŕnh ở bậc PT cần có sự
gắn kết, hỗ trợ một cách hợp lư với
chương tŕnh ở bậc ĐH. Nếu có những
điểm chưa nhất quán ở chương tŕnh
của hai cấp PT và ĐH, hoặc có một vài nội
dung chưa chuẩn xác trong sách giáo khoa của chương
tŕnh PT đều có thể tạo nên những ảnh
hưởng không tốt cho việc dạy và học Văn
ở bậc đại học. Chương tŕnh Ngữ
văn sách giáo khoa lớp 11 của Bộ Giáo dục và
đào tạo, NXB Giáo dục phát hành năm 2007, có đôi
điều gợi sự suy nghĩ cho chúng tôi khi bàn
đến kết quả dạy và học môn Văn
học Việt Nam hiện đại ở ĐH.
2. THỰC TRẠNG
VỀ VIỆC HỌC MÔN VĂN HỌC VIỆT NAM GIAI
ĐỌAN 1900-1930 Ở ĐẠI HỌC
Những ai tâm huyết
với nghề dạy học và nặng ḷng với văn
chương chắc hẳn không khỏi lo lắng, ái
ngại trước kết quả không mấy khả quan,
v́ vẫn c̣n không ít sinh viên ngành Ngữ văn sắp ra
trường mà không thể trả lời được
các câu hỏi: “ Giai đoạn
nào được xem là giai đoạn giao thời trong
lịch sử phát triển của văn học Việt
Nam?”, “Mốc thời gian nào bắt đầu của
thời kỳ văn học Việt Nam hiện
đại?”. Nhiều sinh viên đă không chút đắn
đo khi xếp các tác giả Vũ Trọng Phụng, Ngô
Tất Tố, thậm chí cả Cao Bá Quát, Nguyễn Du vào
cùng giai đoạn với Tản Đà, Hồ Biểu
Chánh, Phan Bội Châu. Có sinh viên c̣n cho rằng Phan Bội Châu
là tác giả tiêu biểu của xu hướng văn
học lăng mạn hồi đầu thế kỉ.
Chuyện nhầm lẫn Tản Đà là người
mở đầu cho phong trào Thơ Mới vẫn “xảy ra” ở sinh viên
năm thứ tư! Những “lỗ
hổng”
kiến thức ấy sẽ âm thầm, lặng lẽ
như những con mọt đục
khoét dần kiến thức của người học
văn. Thoạt đầu tưởng chừng như
không đáng kể. Về sau nó có thể trở nên nghiêm
trọng, khó ai lường trước được. Sau
khi ra trường, với công việc giảng dạy, sinh
viên sẽ vô t́nh đem những “lỗ
hổng” ấy “đắp”
lên lớp tri thức non nớt đang trong thời ḱ phát
triển của bao thế hệ tiếp nối. Chính v́
thế, học tốt để đạt kết quả
tốt ở môn văn học Việt Nam hiện
đại không chỉ là một yêu cầu tất yếu
đối với sinh viên Ngữ văn lúc c̣n ngồi trên
ghế nhà trường, mà c̣n là một đ̣i hỏi có tính
lâu dài của ngành nghề.
Trước khi đi t́m
giải pháp cho vấn đề dạy tốt và học
tốt môn văn học Việt Nam hiện đại,
cụ thể là văn học giai đoạn 1900-1930, chúng
ta nên xác định những nguyên nhân dẫn đến
kết quả như đă nói trên.
3. ẢNH HƯỞNG
CỦA CHƯƠNG TR̀NH VÀ NỘI DUNG SÁCH GIÁO KHOA LỚP 11
ĐẾN VIỆC DẠY VÀ HỌC MÔN VĂN HỌC
VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 1900-1930 Ở ĐẠI HỌC
Theo chúng tôi, những kết
quả chưa tốt trong việc học môn văn học
Việt Nam hiện đại giai đoạn 1900-1930
trước hết là do sinh viên chưa có ư thức đúng
về môn học. Ư thức đúng về môn học đóng
vai tṛ quan trọng trong quá tŕnh học tập của sinh
viên. Nó quyết định cách học. Nó khơi gợi
hứng thú trong học tập và đặt ra những yêu
cầu cụ thể cho người học đối
với môn học. Qua t́m hiểu, chúng tôi nhận thấy
một điều khá phổ biến ở sinh viên Ngữ
văn khi học môn văn học Việt Nam hiện
đại là xem trọng giai đoạn này mà coi nhẹ
giai đoạn kia. Sinh viên thường chú trọng
những giai đoạn văn học có tập trung
nhiều tác giả, tác phẩm nổi tiếng. C̣n
những giai đoạn văn học chưa đạt
thành tựu cao, như giai đoạn 1900-1930, dù có vai tṛ
quan trọng trong lịch sử của nền văn học
dân tộc, cần được nghiên cứu để
nhận ra quá tŕnh vận động và phát triển của
nó th́ sinh viên lại ít chú ư, thiếu quan tâm hoặc kém
mặn mà khi học tập và nghiên cứu đến giai
đoạn này. Phải chăng sinh viên chưa xem văn
chương là đối tượng để nghiên cứu,
mà chỉ quan tâm đến việc thưởng thức
một cách thuần túy các giá trị nghệ thuật ngôn
từ. Khi nào sinh viên nhận thức được tác
phẩm văn học là đối tượng để
nghiên cứu, th́ sẽ không c̣n có sự phân biệt hấp
dẫn hay không hấp dẫn, đạt được thành
tựu cao hay thấp, mà chỉ hướng đến t́m hiểu, để phát hiện
ra sự vận động và phát triển của văn
học, thấy được những đóng góp của
nó trong từng bối cảnh lịch sử, xă hội
cụ thể.
Vấn đề chương tŕnh
và nội dung sách giáo khoa (SGK) là vấn đề cần
được quan tâm nhiều. Hiện nay giữa
chương tŕnh văn học Việt Nam hiện
đại ở bậc ĐH và bậc PT chưa có sự
liên kết chặt chẽ. Nội dung chương tŕnh có ư
nghĩa xác định những vấn đề cần
dạy và học. Phần lớn sinh viên có thói quen chỉ
tập trung vào học những ǵ sát với chương
tŕnh và chú ư khả năng ứng dụng những kiến thức
đă học khi ra trường. SGK Ngữ văn lớp 11
không giới thiệu riêng về giai đoạn văn
học 1900 - 1930, để tŕnh bày tính giao thời và
nhấn mạnh vai tṛ thực hiện bước
chuyển ḿnh sang thời ḱ văn học hiện
đại của nó; chương tŕnh văn học ở
PT lại không có nhiều tác phẩm thuộc giai
đoạn giao thời. Do đó, người học
dễ có tâm lí không cần thiết phải nghiên cứu
kĩ giai đoạn văn học này v́ không phục
vụ cho việc giảng dạy về sau. Trường
hợp tác giả Hồ Biểu Chánh là một ví dụ tiêu
biểu. Không ít sinh viên cho rằng đầu tư nghiên
cứu tiểu thuyết Hồ Biểu Chánh sẽ không mang
lại lợi ích lâu dài cho họ sau khi ra trường. V́
tác phẩm của Hồ Biểu Chánh chỉ
được đưa vào chương tŕnh văn
học lớp 11 ở phần đọc thêm. Một khi sinh
viên chưa nhận thấy đóng góp to lớn của
Hồ Biểu Chánh đối với nền tiểu
thuyết Việt Nam hiện đại, lại có quan
niệm như đă tŕnh bày th́ khó có những hứng thú,
say mê để học tập, nghiên cứu tốt về
tiểu thuyết Hồ Biểu Chánh và như thế
dễ dẫn đến t́nh trạng học đối
phó, t́m hiểu qua loa. Để rồi nắm vấn
đề một cách mơ hồ, chung chung. Đôi khi c̣n
đưa ra những nhận định hết sức sai
lầm về Hồ Biểu Chánh.
Bên
cạnh đó, sư phiến diện ở nội dung, SGK
đă “vô t́nh” tạo ra cách học lệch cho sinh viên
đối với môn văn học Việt Nam hiện
đại. Những người biên soạn SGK chỉ
đề cập sơ lược về văn học
Quốc ngữ Nam bộ giai đoạn 1900-1930 , chưa
thể hiện hết những đóng góp của nó
đối với nền văn học hiện
đại. Chính Hồ Biểu Chánh và lực lượng
sáng tác khá đông đảo ở Nam bộ là những
người khai sơn phá thạch cho văn học
quốc ngữ. Thế mà, theo chương tŕnh của SGK
bóng dáng họ bị lu mờ hẳn.( không có tác phẩm nào
thuộc bộ phận văn học này được
tuyển chọn đưa vào phần chính thức của
chương tŕnh để giảng dạy )
Trong bài “Khái quát Văn học
Việt Nam từ đầu thế kỉ XX đến Cách
mạng tháng Tám năm 1945”, tác giả SGK có
đề cập đến những đóng góp của nhà
văn Hồ Biểu Chánh. Tuy nhiên, đánh giá chưa xác
đáng, có phần phủ nhận công lao của một nhà
văn đă đóng vai tṛ quan trọng trong việc mở
đường cho sự phát triển của văn xuôi Quốc
ngữ, ở thể loại tiểu thuyết. Tác giả
SGK cho rằng:”Ngôn ngữ tiểu thuyết Hồ
Biểu Chánh có tính b́nh dân, đậm chất Nam bộ
nhưng chưa đạt chuẩn mực ngôn ngữ
văn chương”(tr 88). Ngôn ngữ là chất liệu
quan trọng làm nên tác phẩm văn chương. Giá
trị của tác phẩm trước hết thể
hiện ở ngôn ngữ tác phẩm. Nếu cho rằng ngôn
ngữ tiểu thuyết Hồ Biểu Chánh chưa
đạt tới chuẩn mực ngôn ngữ văn
chương th́ tiểu thuyết của Hồ Biểu
Chánh cũng chưa thể đạt được
chuẩn mực của một tác phẩm văn
chương. Học sinh tiếp thu lời đánh giá trên
từ sách giáo khoa liệu có được hứng thú
để t́m đọc tác phẩm Hồ Biểu Chánh
không? Và hơn thế nữa, sẽ khó có đựợc
những cách tiếp nhận đúng về tác phẩm
của Hồ Biểu Chánh. Biết rằng, tiểu
thuyết Hồ Biểu Chánh c̣n để lại một
số hạn chế về ngôn ngữ nhưng phải
đặt tác phẩm của Hồ Biểu Chánh vào giai
đoạn chuyển tiếp giữa hai thời ḱ lớn
của văn học: trung đại và hiện
đại; giai đoạn mở đầu cho văn xuôi
Quốc ngữ để xem xét, đánh giá. Có thế,
mới ghi nhận hết và đúng những đóng góp quan
trọng của ông. Hồ Biểu Chánh đă sử
dụng “ tiếng của dân chúng đồng bằng sông
Cửu Long”[9, 312] để viết tiểu thuyết, “đó
là tiếng Việt ở một vùng cư dân đông đúc
tại nơi phía Nam của Tổ quốc với những
đặc sắc riêng của nó” [9, 312]. Ngôn ngữ
tiểu thuyết Hồ Biểu Chánh thể hiện cách
phát âm của người Nam bộ. Hướng về
độc giả là công chúng b́nh dân Nam bộ, cho nên nhà văn
sử dụng tối đa từ địa phương.
Nhà văn c̣n mang cả khẩu ngữ vào trong sáng tác.
Từ tác phẩm của Hồ Biểu Chánh đă“khẳng
định có thể dùng khẩu ngữ của dân chúng Nam
bộ làm cơ sở để xây dựng tác phẩm
văn chương “ [9,
313]. Sự hiện diện của các yếu tố
trên không làm cho ngôn ngữ tiểu thuyết Hồ Biểu
Chánh rơi vào t́nh trạng “chưa đạt tới
chuẩn mực của ngôn ngữ văn chương”, mà
c̣n tạo nên nét riêng cho ngôn ngữ tiểu thuyết Hồ
Biểu Chánh,”một thứ ngôn ngữ ngồn ngộn
chất sống và giàu màu sắc địa phương”.
Lối hành văn trơn tuột như lời nói
thường trong tiểu thuyết Hồ Biểu Chánh
đă đưa ông vào vị trí: ”người đầu
tiên làm cách mạng đập vỡ cái khuôn khổ văn
chương đài các giả tạo ấy” [4, 567]. Tóm lại, theo
chúng tôi, ngôn ngữ tiểu thuyết Hồ Biểu Chánh có
nhiều đóng góp mới và đă đạt
được chuẩn mực của ngôn ngữ văn
chương, đặt vào thời điểm buổi
đầu mới h́nh thành văn học Quốc ngữ.
Tác
giả SGK đă xem vấn đề mô phỏng tiểu
thuyết phương Tây ở tiểu thuyết Hồ
Biểu Chánh như một điểm hạn chế tiêu
biểu. Sách đă ghi:...”Nhưng nhiều tác phẩm
của ông c̣n mô phỏng cốt truyện của tiểu
thuyết phương Tây, . . .”( tr 88). Mô phỏng, đó
là việc làm phổ biến, mang tính tất yếu ở
những năm đầu thế kỷ XX, khi mà
người sáng tác c̣n đang t́m kiếm phương
thức sáng tác mới, th́ học theo phương Tây đă
là một phương cách được chọn lựa.
Hồ Biểu Chánh mô phỏng cốt truyện tiểu
thuyết phương Tây nhưng đă tái hiện thành công
h́nh ảnh xă hội Nam bộ; thể hiện trọn
vẹn, chân thực, tự nhiên tính cách con người vùng
đồng bằng sông nước. Điều này
chứng minh sự khéo léo, tinh tế của Hồ Biểu
Chánh trong quá tŕnh tiếp nhận văn học phương
Tây. Hồ Biểu Chánh đă thành công khi tiếp biến
tinh hoa văn học nước ngoài. Ông đă làm công
việc chuyển hóa các yếu tố ngoại lai trở
thành những yếu tố nội sinh để tạo
điều kiện thuận lợi cho sự h́nh thành
tiểu thuyết Việt Nam hiện đại. Như
thế, ở vấn đề này, phải ghi nhận
đóng góp của ông hơn là đánh giá hạn chế.
Không
chỉ có cái nh́n phiến diện, thiếu công bằng
về văn học Quốc ngữ Nam bô, về tiểu
thuyết của Hồ Biểu Chánh, tác giả SGK c̣n
đưa ra những kết luận chưa thỏa
đáng khi đánh giá thành tựu của tiểu thuyết
văn xuôi Quốc ngữ giai đoạn từ đầu
thế kỷ XX đến năm 1930. Trang 88 của sách có
nêu: ”Trước năm 1930, tiểu thuyết văn xuôi
Quốc ngữ xuất hiện chưa nhiều.” . Lời
nhận định của SGK là khó có thể chấp
nhận được. V́ chưa ghi nhận đúng
những đóng góp quư báu của tiểu thuyết văn
xuôi Quốc ngữ ở giai đoạn trước !930.
Thực tế cho thấy, ngay trong buổi b́nh minh của
văn học Quốc ngữ, các tác phẩm thuộc
thể loại văn xuôi, chủ yếu là tiểu
thuyết và truyện ngắn đă xuất hiện
nhiều ở cả hai miền Nam, Bắc.
Nói
đến tiểu thuyết Nam bộ không thể quên
được các tiểu thuyết gia tiên phong: Trần
Thiên Trung ( Hoàng Tố Anh hàm oan – 1910), Trương Duy
Toản ( Phan Yên ngoại sử - 1910), Lê Hoằng
Mưu (Hà Hương phong nguyệt – 1915). Về sau có
thêm: Nguyễn Chánh Sắt (Nghĩa hiệp ḱ duyên –
1920, Ḷng người nham hiểm - 1925), Phú Đức
(Tơ hồng cay nghiệt –1925, Hiệp phố châu
buồn – 1928), Phạm Minh Kiên (Ân oán v́ t́nh – 1925), Tuấn
Anh (Ai lỗi lầm – 1926), Tân Dân Tử (Giọt máu
chung t́nh –1926), Bửu Đ́nh (Mảnh trăng thu
– 1930)... Hồ Biểu Chánh là nhà văn sung sức nhất,
tính đến năm 1930 ông đă viết được
17 tác phẩm, trong số đó có những tác phẩm có giá
trị tiêu biểu như: Con nhà nghèo, Chúa tàu Kim Qui,
Tiền bạc bạc tiền, Cha con nghĩa
nặng, Nhân t́nh ấm lạnh, Nợ đời, Cay
đắng mùi đời, ...Ngay từ trước
năm 1930, tiểu thuyết Nam bộ đă “trở thành
bộ phận văn học đi đầu với
thể loại tiểu thuyết”. [8,62]
Cùng
thời gian này miền Bắc cũng đă có nhiều
tiểu thuyết từng tạo tiếng vang trên văn
đàn hợp pháp đương thời: Giấc
mộng con – 1916 (Tản Đà), Cành hoa điểm tuyết
– 1921, Cuộc tang thương – 1923 (Đặng
Trần Phất), Kim Anh lệ sử - 1924 (Trọng
Khiêm), Quả dưa đỏ - 1925 (Nguyễn
Trọng Thuật), Tố Tâm –1925 (Hoàng Ngọc Phách), Cậu bé nhà quê – 1925
(Nguyễn Lân), ...
Và c̣n
những sáng tác khác của một số nhà văn trong giai
đoạn này mà chúng tôi chưa có điều kiện
kể hết như tác phẩm của Sơn Vương,
của Nguyễn Tử Siêu… nhưng với số
lượng tác phẩm nêu trên đă đủ thấy rằng
trước năm 1930 tiểu thuyết văn xuôi Quốc
ngữ xuất hiện không phải là ít.
Các tác
giả SGK không chỉ thiếu quan tâm đến văn
học Quốc ngữ Nam bộ giai đoạn
trước năm 1930, mà với văn xuôi quốc ngữ
ra đời ở miền Bắc cũng chưa có
sự ghi nhận đúng
mực về những đóng góp của bộ phận này.
Phạm Duy Tốn, Nguyễn Bá Học là những tác
giả truyện ngắn có công mở đường cho
sự h́nh thành và phát triển của truyện ngắn
hiện đại. Sáng tác của họ mang nhiều
yếu tố mới, tạo ra những thành tựu
bước đầu cho thể loại truyện ngắn
hiện đại. Thế mà khi viết về thành tựu
của truyện ngắn giai đoạn 1900-1945, ở
mục Thành tựu chủ yếu của văn học
Việt Nam từ đầu thế kỉ XX đến
Cách mạng tháng Tám năm 1945 (trang 89), SGK không hề
nhắc đến tác phẩm của Phạm Duy Tốn hay
Nguyễn Bá Học.
Ngoài ra,
theo chúng tôi, việc sắp xếp thứ tự tác
phẩm trong chương tŕnh chưa hơp lư. Chúng tôi
nhận thấy tác giả SGK có dụng ư giới thiệu
văn học giai đoạn 1900-1945 theo thể loại.
Văn xuôi được đưa vào giảng dạy và
học tập trước thơ. Điều này không có ǵ
để bàn lại. Nhưng tác giả SGK không chú ư
đến một điểm khác là đă giới thiệu
tác phẩm của giai đoạn 1930-1945 trước (Hai
đứa trẻ, Chữ người tử tù, Hạnh
phúc của một tang gia, Chí Phèo…), sau đó mới cho
học sinh được tiếp cận những tác
phẩm ra đời ở giai đoạn 1900- 1930 ( Xuất
dương lưu biệt, Hầu trời). Như
thế học sinh sẽ không nhận thấy
được sự vận động phát triển
của văn học theo lịch sử văn học.
Đồng thời, dễ dẫn đến sự
nhầm lẫn khi xác định các tác giả, tác phẩm
tiêu biểu cho mỗi giai đoạn. Khi nhận thấy sinh
viên ĐH c̣n những lỗ hổng kiến thức văn
học như đă tŕnh bày ở phần trên, chúng tôi không
khỏi băn khoăn về sự sắp xếp của
chương tŕnh SGK như đă nêu.
Những
điều chưa hợp lư của SGK lớp 11 như
chúng tôi đă tŕnh bày, học sinh phải tiếp nhận. Hành
trang kiến thức để các em bước lên
ĐH v́ thế có những điểm “bất ổn”;
tâm lư tiếp nhận tác phẩm văn chương ra
đời ở giai đoạn 1900-1930 đă bị tác
động không ít từ nội dung của SGK . Đó là
một trong những yếu tố ảnh hưởng
đến việc dạy và học môn văn học
Việt Nam giai đoạn 1900-1930 ở ĐH.
Tuy nhiên, kết quả
của việc dạy và học môn văn học Việt
Nam hiện đại giai đoạn 1900-1930 không phải
hoàn toàn do chương tŕnh SGK lớp 11 quyết định.
Bên cạnh đó c̣n có những nguyên nhân khác. Đă từ
lâu, vấn đề đổi mới phương pháp
giảng dạy và học tập ở trường ĐH
được đặt lên hàng đầu. Cả
người dạy và người học đều
lấy phương châm “biến
quá tŕnh đào tạo thành quá tŕnh tự đào tạo”
để định hướng cụ thể cho ḿnh
trong việc giảng dạy và học tập. Thực
hiện tốt điều này đ̣i hỏi sinh viên
phải có ư thức tự giác cao, phải tích cực
chủ động trong học tập trên lớp và
biết tự nghiên cứu ở nhà. Người Thầy
chỉ đóng vai tṛ người dẫn đường.
Khi được trao cho tấm
phao, tṛ phải tự động bơi đến
đích theo sự hướng dẫn của Thầy.
Thế nhưng, trên thực tế, ư thức học
tập tự giác hay chủ động tích cực trong
giờ học trên lớp của sinh viên chưa cao hoặc
thiếu đồng đều giữa các lớp. V́
thế có nhiều trở ngại cho giáo viên khi áp dụng
phương pháp dạy học
khám phá. Sinh viên Ngữ văn hăy c̣n nhiều e dè, nhút nhát,
thiếu tự tin ở khả năng của chính ḿnh. Do
đó chưa chịu tích cực hoạt động trong
giờ học. Rất ít trường hợp sinh viên có
được tinh thần tranh luận học thuật hay
tự nghiên cứu khi học. Thậm chí có những sinh
viên tỏ ra bực bội khi gặp những giáo viên áp
dụng nhiều h́nh thức buộc sinh viên phải làm
việc tích cực trên lớp. Hoặc không làm bài tập
nào ở nhà. Thói quen tiếp nhận kiến thức môt cách
thụ động, một chiều đă h́nh thành ở
nhiều sinh viên cách học chưa đúng như đă tŕnh
bày.
Đối với môn văn
học Việt Nam hiện đại, sinh viên không
đọc tác phẩm, không t́m hiểu thêm vấn
đề từ sách tham khảo sẽ gặp nhiều khó
khăn trong việc tiếp nhận những kiến
thức mới. Sinh viên không đọc các truyện
ngắn hay tiểu thuyết Quốc ngữ Nam bộ
những năm đầu thế kỷ XX th́ không thể
nhận ra những đổi mới và hạn chế
của nó, để có thể rút ra được nhận
xét về văn xuôi Quốc ngữ Nam bộ trong giai
đoạn mới h́nh thành. V́ thế, không thể nào
đánh giá đúng những đóng góp của nó đối
với nền văn học Việt Nam hiện
đại. Không đọc thơ Tản Đà, sinh viên
cũng không thể hiểu được v́ sao khi nói
về Tản Đà, Hoài Thanh và Hoài Chân đă viết: ”Tiên sinh đă dạo những
bản đàn mở đầu cho một cuộc ḥa
nhạc tân kỳ đang sắp sửa” (Thi nhân Việt Nam). Giai
đoạn văn học 1900-1930, có nhiều tác phẩm c̣n
mới mẻ đối
với sinh viên. Không đến với tác phẩm, sinh viên
càng thêm xa lạ với nó.
Vấn
đề đọc tác phẩm, đọc tư liệu
tham khảo rất cần thiết đối sinh viên
học Văn nhưng c̣n nhiều sinh viên chưa ư thức
được điều này. Do đó, tạo nên những
trở ngại lớn trong việc học, đồng
thời cũng gây khó khăn không ít cho giáo viên trong quá tŕnh giảng
dạy.Theo nhận xét của Nguyễn Thị Hồng Nam,
hiện nay phổ biến t́nh trạng “sinh viên không
đọc hoặc rất ít đọc tác phẩm, dù
chỉ là đọc để nắm nội dung tác
phẩm, chưa nói đến việc nghiên cứu các b́nh
diện nội dung và nghệ thuật của tác phẩm”.
V́ thế, đă h́nh thành thói quen “ăn theo, nói leo
những điều mà các nhà nghiên cứu, các giáo viên đă
viết và nói về tác phẩm chứ không thể hiện
được những khám phá của chính ḿnh về tác
phẩm“ [7, 56]. Hiện
nay, tài liệu tham khảo không c̣n khan hiếm để có
thể gây khó khăn cho sinh viên khi nghiên cứu. Sinh viên có
thể tham khảo tài liệu trên sách, báo, tạp chí và trên
Internet. Nhưng tất cả phụ thuộc vào ư thức
tự giác học tập của sinh viên.Ư thức tự
giác chưa cao, tất yếu kết quả học tập
sẽ chưa tốt.
Thế
nhưng, chương tŕnh và nội dung của SGK lớp 11
có những điểm chưa hợp lư như đă tŕnh
bày vẫn có thể xem là yếu tố đă tác
động mạnh đến tâm lư, nhận thức
người học, ảnh hưởng của nó
đối với việc dạy và học môn văn
học Việt Nam giai đoạn 1900-1930 ở ĐH không phải là ít.
4.
ĐỀ XUẤT
Trong khi
chờ đợi sự chia sẻ của các cấp có
trách nhiệm về SGK, với mong muốn những ǵ chưa
được hợp lí sẽ được điều
chỉnh để việc dạy và học Văn
đạt kết quả ngày càng cao hơn, chúng tôi nghĩ
đến việc tự khắc phục hạn chế,
trên cơ sở những ǵ có thể làm đuợc.
Quan điểm hiện nay về
vấn đề dạy và học ở trường
ĐH là lấy học tṛ làm trung tâm. Tṛ là người
chủ động, tích cực trong quá tŕnh học tập
để lĩnh hội kiến thức một cách
trọn vẹn và có sự sáng tạo. Tục ngữ có câu:
“Không Thầy đố mầy
làm nên”. Người Thầy vẫn luôn có một vai tṛ
và trách nhiệm nhất định trong quá tŕnh truyền
thụ kiến thức cho sinh viên. Với kết quả
chưa khả quan trong việc học môn văn học
Việt Nam hiện đại như đă tŕnh bày ở
trên, người dạy cần phải nghĩ đến
một phần trách nhiệm ở ḿnh.
Có lẽ lâu nay người dạy
chưa chú ư khơi gợi sự hứng thú cho sinh viên khi
học môn học này. Với một giai đoạn văn
học có đặc điểm kém hấp dẫn,
thiếu thú vị, thừa khô khan như giai đoạn
1900-1930, vấn đề khơi gợi hứng thú cho
người học trở nên cần thiết, phải
được chú ư nhiều. Khi đă có được
sự hứng thú, niềm say mê đối với môn
học th́ ư thức tự giác, chủ động trong
học tập mới có điều kiện phát huy tối
đa. Làm cách nào để tạo được hứng
thú cho sinh viên đối với môn học này? Đó là
một câu hỏi không đơn giản khi đi t́m
lời đáp. Hứng thú cho việc học môn học
cụ thể như môn văn học Việt Nam giai
đoạn 1900-1930, có thể được gợi lên
từ nhiều t́nh huống, hoàn cảnh, trường
hợp khác nhau. V́ vậy, đ̣i hỏi sự linh
động của người dạy trong quá tŕnh
giảng dạy môn học. Có thể nhiều khó khăn,
phức tạp nhưng đôi khi cũng hết sức
nhẹ nhàng, đơn giản.
4.1. Một chút ấn
tượng đẹp nhưng sâu đậm về tác
giả được học cũng có thể cuốn hút
sinh viên vào việc t́m ṭi, nghiên cứu. Ví dụ: Người
Thầy có thể đưa đến Tṛ những cảm
nhận đầu tiên về Phan Bội Châu thông qua tấm
gương yêu nước và nhiệt t́nh hoạt đông
cách mạng của ông. Một người đă từng
bôn ba nơi hải ngoại để t́m đường
cứu nước nhưng chí lớn không thành. Anh hùng
đành ôm hận! Cũng chính con người ấy đă
để lại cho nền văn học dân tộc
một khối lượng sáng tác khổng lồ: hơn
1000 tác phẩm! Sáng tác của Phan Bội Châu mang đặc
điểm “b́nh cũ
rượu mới” nhưng đă đưa đến
cho văn học Việt Nam một nội dung yêu
nước tiến bộ mang tính chất mới mẻ…
4.2. Giúp sinh viên thấy
được ư nghĩa, mục đích của vấn
đề được học hay nghiên cứu là góp
phần khơi gợi sự hứng thú cho họ. Ví dụ:
Khi dạy đến văn học giai đoạn 1900-
1930, giáo viên cần nêu rơ đây là một giai đoạn
văn học mang tính giao thời. V́ thế có sự pha
tạp, lắp ghép các yếu tố cũ và mới ở
hầu hết các tác phẩm văn học, tuy mức
độ có khác nhau. T́m hiểu văn học giai
đoạn này sẽ nhận thấy trong những năm
tháng chuyển ḿnh sang thời ḱ hiện đại, văn
học Việt Nam đă phải trải qua những
giằng co, trăn trở dữ dội. Đổi
mới để phát triển, đó là quy luật tất
yếu. Không chỉ là của xă hội mà cũng là của
văn chương.
4.3 Văn học là nhân học, học văn
chương cũng là học cách sống, cách làm
người, cách ứng xử cho phải đạo.
Tiểu thuyết Hồ Biểu Chánh đă mang đến cho
chúng ta những bài học đạo lí “vừa tầm”, nó có cái ǵ đó vừa thiết
thực, vừa gần gũi, vừa cụ thể.
Những bài học đạo lí luôn được Hồ
Biểu Chánh đặt vào từng cảnh ngộ cụ
thể, nảy sinh từ cuộc sống đời
thường, quanh ta. Cho nên nó thiết thực với
mọi người. Nó không chỉ là cái của hôm qua, mà c̣n
là cái của hôm nay cần được tiếp tục
suy ngẫm. Khi đă được nhận ra ư nghĩa
của vấn đề như đă nêu, chắc hẳn
những định kiến, những đánh giá chưa
đúng về tiểu thuyết Hồ Biểu Chánh sẽ
không c̣n, nhường chỗ cho những thắc mắc,
suy nghĩ xoay quanh tiểu thuyết Hồ Biểu Chánh.
Sinh viên sẽ có được nhu cầu t́m hiểu
về tác phẩm của Hồ Biểu Chánh để
được giải tỏa “hiếu ki” của
ḿnh. Như thế sinh viên bắt đầu có
được hứng thú.
Người dạy rất cần
có sự kiên tŕ và kiên quyết trong quá tŕnh giảng dạy.
Những biểu hiện chưa ủng
hộ từ phía sinh viên trong giờ học dễ
tạo cảm giác bất măn cho người dạy. Đó
cũng là một trong những lư do khiến việc
giảng dạy môn học
chưa mang lại kết quả như mong muốn.
Dạy văn là dạy cái hay cái
đẹp. Thế nhưng, theo nhận định
của Lê Tiến Dũng th́ “thực tiễn giảng
dạy văn chương Việt Nam hiện đại
ở phổ thông cũng như đại học hiện
nay đang có t́nh trạng người giảng dạy ít chú
ư đến phân tích cái hay, cái đẹp của văn
chương, mà thường thiên về những nội
dung xă hội, quan điểm lập trường.” [7,23]. Phải chăng
đây cũng là một trong những yếu tố làm
giảm hứng thú học tập cho sinh viên! Đối
với môn văn học Việt Nam giai đoạn giao
thời 1900-1930, vấn đề này tạo cho
người dạy không ít những băn khoăn. Bởi
đây là thời kỳ chuyển ḿnh của văn học
từ phạm trù văn học trung đại sang phạm
trù văn học hiện đại, các nhà văn nhà thơ
đang ṃ mẫm, t́m kiếm những phương
thức thể hiện mới, trong hoàn cảnh tư
tưởng chưa thật dứt khoát, theo phong kiến
hay tư sản. V́ thế, khác với các giai đoạn
khác, thơ văn giai đoạn này thường mang
đặc điểm pha tạp cái cũ và cái mới
ở cả hai phương diện nội dung và nghệ
thuật. Do đó, cái hay cái đẹp chưa hiển
thị ngay trên tác phẩm, mà toát ra từ chính các yếu
tố thể hiện sự chuyển ḿnh của nó.
Cảm nhận được điều đó đă không
dễ. Giúp sinh viên cùng cảm nhận càng không đơn
giản chút nào! Thiếu thận trọng; non kém về
năng lực, hay chưa có niềm say mê, sự tận tâm
với công việc đều dễ khiến người
dạy gặp thất bại. Chẳng hạn
trường hợp bài thơ “Hoa sen nở trước
nhất đầm” của Tản Đà, nếu
được cảm nhận và phân tích như các bài
thơ ra đời ở các giai đoạn khác th́ khó xác
định được cái hay cái đẹp
của nó, sẽ thấy thơ Tản Đà không có
được nét riêng, thể hiện đặc trưng
của thơ ở giai đoạn giao thời. Với
một thể thơ quen thuộc, được các nhà nho
Việt Nam học tập từ thơ Trung Quốc;
với những chất liệu cũ: h́nh ảnh (hoa
sen), ngôn ngữ, lối vào đề (‘Trong đầm ǵ
lại đep hơn sen”), lấy từ Văn học
dân gian và thơ trung đại; và bằng cảm hứng
của một nhà nho sống trong xă hội trên con
đường tư sản hoá, Tản Đà đă đem
cái “tôi” phô bày trước công chúng. Hoa sen nở
trước nhất đầm không c̣n là h́nh ảnh
tượng trưng cho người quân tử cao khiết,
đạo mạo, mẫu mực nữa. Mà thật táo
bạo, khi nó được tác giả nh́n như một cô
gái mạnh mẽ, dạn dĩ, đầy tự tin và kiêu
hănh trước cuộc đời phức tạp và
nhiều cạm bẫy. Thân gái lạ đứng
giữa mặt nước chân trời mà vẫn không
chút bối rối, chẳng hề lo sợ, khác hẳn
những người con gái trong văn chương
truyền thống. Hơn thế, người con gái ở
đây c̣n như muốn thách thức, tỏ ra ư thức rơ
về ḿnh. Ḿnh là đối tượng của sự ghen
ghét đố kỵ. Một kiểu khẳng
định cá nhân đầy chất ngông:
Đă
trót hở hang khôn khép lại
Lại
c̣n e nỗi chị em ghen.
Tản Đà đă thổi
vào thơ Việt Nam những t́nh cảm, tư
tưởng và suy nghĩ mới, tạo cho nó có một
vẻ đẹp riêng, ẩn hiện, khó thấy. Nhưng
càng nh́n càng thấy đẹp, càng đọc càng nhận
ra nhiều cái hay. Mới và cũ cùng hiện diện trong
bài thơ. Đây không phải là sự lắp ghép máy móc,
sự pha tạp mang tính công thức mà là sự hoà quyện
vào nhau một cách tự nhiên giữa cái truyền thống
và cái hiện đại, làm nên nét riêng, tính độc
đáo của thơ trong giai đoạn chuyển ḿnh sang
thời hiện đại.
5. KẾT LUẬN
Tóm lại, để
dạy và học tốt môn văn học Việt Nam giai
đọan 1900-1930 đ̣i hỏi ư thức tự giác
cao trong việc học của
sinh viên . Sinh viên có được được niềm
say mê, sự hứng thú trong học tập tất yếu
sẽ đi được những bước vững
vàng trên cả những chặng đường gập
ghềnh, khó khăn. Người dạy phải luôn làm
tốt vai tṛ của người hướng đạo, tận tâm, tận t́nh và
bằng cả niềm say mê với nghề nghiệp. Khi
đă có sự phối hợp nhịp nhàng giữa
người dạy và người học với một ư
thức trách nhiệm cao, tất yếu kết quả
sẽ mĩ măn.
Sự quan tâm nhiều
hơn đến mối liên hệ giữa các bậc
đào tạo khi biên sọan chương tŕnh giảng
dạy sẽ là điều kiện thuận lợi để
tất cả chúng ta có thể hoàn thành tốt việc
giảng dạy và học tập. SGK là tài liệu quan trọng
, cần thiết, được sử dụng như
một công cụ tối ưu trong suốt quá tŕnh
dạy và học ở PT. Do đó, chúng tôi mong chờ ở
đó những nội dung thật chuẩn xác, thể
hiện cái nh́n hợp lư về các vấn đề
muốn truyền thụ cho học sinh, làm nền tảng
vững chắc cho sinh viên khi bước lên ĐH.
Đồng thời, SGK càng có sự hoàn chỉnh, hợp lí
về nội dung, chương tŕnh sẽ càng tạo
điều kiện thuận lợi cho việc dạy và
học ở ĐH.
-------------
Tài liệu tham
khảo:
1.
Nguyễn Duy B́nh, Dạy
văn, dạy cái hay cái đẹp, Nxb Giáo dục, 1983.
2.
Trần Thanh B́nh – Lê
Xuân Lít (tuyển chọn), Về một hướng
dạy và học văn, Sở Giáo dục Nghĩa B́nh,
1987.
3.
Trần Đ́nh
Hượu- Lê Chí Dũng, Văn
học Việt Nam giai đoạn giao thời 1900 – 1930,
NXB Đại học & THCN, 1980.
4.
Thanh Lăng, Bảng
lược đồ văn học Việt Nam, Nxb Tŕnh Bầy, 1967.
5.
Phan Trọng
Luận (Chủ biên), Phương pháp
dạy học Văn, Nxb Giáo dục 1988.
6.
Khoa Sư
phạm, Kỉ yếu Hội nghị KH và
cải tiến phương pháp dạy học,
Trường Đại học Cần Thơ, 2001.
7.
Trường
Đại học Cần Thơ, Kỉ
yếu Hội thảo KH Đổi mới nội dung và
phương pháp học Văn học Việt Nam hiện
đại trong trường Đại học, năm 2007.
8.
Bích Thu, Tiểu
thuyết Việt Nam trong quá tŕnh hiện đại hóa
văn học nửa đầu thế kỉ, Tc Văn học số 4, 2001, tr. 61.
9.
Cù Đ́nh Tú, Phong cách học
và đặc điểm tu từ tiếng Việt, Nxb Giáo dục, HN, 2001.
----------
Nguồn:
(Bài in trong sách “Đổi mới
dạy văn và học văn”- Hội Nghiên cứu &
Giảng dạy Văn học Thành phố Hồ Chí Minh, Nxb
Văn hoá Sài G̣n, tr 179 – 195)