Huỳnh
Thị Lan Phương
1. “Giao thời
là khoảng thời gian chuyển tiếp từ thời ḱ
này sang thời ḱ khác, cái mới cái cũ đan xen lẫn
nhau, thường có mâu thuẫn xung đột, chưa ổn
định.” (3,378). Nói đến tính giao thời trong
văn học là đề cập đến những biến
chuyển hết sức phức tạp của văn học
trong một khoảng thời gian nhất định để
đưa nền văn học bước sang một thời
ḱ mới. Giai đoạn này đă diễn ra
một quá tŕnh đấu tranh quyết liệt giữa hai
nền văn hóa cũ và mới, cuộc đấu tranh
đó chưa phân thắng bại. Đây cũng là một
giai đoạn hết sức phức tạp, nội dung
và h́nh thức sáng tác cũ, mới đan xen nhau. Nền văn học cũ khắc phục dần
những hạn chế, từng bước canh tân. Nền văn học mới vừa phát huy những
nhân tố hiện đại vừa kế thừa những
thành tựu của nền văn học cũ. V́ vậy, văn học giai đoạn này có một
diện mạo đặc biệt, tạo nên những
đặc điểm riêng không thể t́m thấy ở các
giai đoạn trước và sau đó.
Trong lịch sử phát triển của văn học
Việt
Nguyễn Đ́nh Chú cũng
đă viết: “Lịch sử
văn học, xét cho cùng là lịch sử cách tân văn học”
(1,15). Và, theo quan niệm
của ông th́ có hai mức độ cách tân: Cách tân trong nội
bộ một phạm trù văn học và cách tân có ư nghĩa
chuyển từ phạm trù văn học này sang phạm trù
văn học khác. Sự thay đổi phạm trù văn học
là sự cách tân có tính chất đồng bộ, toàn diện
về lực lượng sáng tác, về công chúng văn học,
về phương diện văn học, về
phương thức tồn tại của văn học, về
quan niệm nghệ thuật, về đề tài, về
ngôn ngữ, về thể loại, thể tài cùng với hệ
thống thi pháp. Thực hiện những
điều đó không thể trong một thời gian một
sớm một chiều mà đ̣i hỏi phải qua một
quá tŕnh khá gay go và phức tạp. Chúng ta có thể xem 30 năm đầu
thế kỉ là chặng đường đầu của
sự cách tân văn học. Tính giao thời thể
hiện rơ nhất trong giai đoạn này.
2. Nghiên cứu văn học giai
đoạn 1900 - 1930, chúng ta sẽ dễ dàng nhận ra các
biểu hiện của tính giao thời: Sự tồn tại
hai lực lượng sáng tác, hai phương pháp thể hiện,
hai quan niệm sáng tác, hai loại công chúng. Nhưng
đó chỉ là những yếu tố có tính chất bề
nổi.Cần phải bóc tách lớp vỏ bề ngoài
để khai thác mọi vấn đề đang ẩn
trong đó mới có thể phát hiện ra được những
cái cốt lơi, nội dung của tính giao thời.
Trong
lịch sử văn học Việt
2.1.
Trước hết, chúng ta thử t́m hiểu trường
hợp nội dung mới thể hiện trong những h́nh
thức cũ. Đây là trường hợp
phổ biến ở ḍng văn học yêu nước và
cách mạng. Để đạt mục
đích phục vụ cho hoạt động chính trị,
các tác giả của ḍng văn học này đă tập trung
thể hiện những nội dung mới trong những
h́nh thức nghệ thuật chưa có ǵ thay đổi.
Người ta bắt đầu nói tới những
tư tưởng yêu nước mới. Yêu nước
và trung quân không c̣n đi đôi với nhau, yêu nước gắn
liền với hoạt động đấu tranh giải
phóng dân tộc, bảo tồn “ṇi
giống” và phát triển xă hội theo
con đường cách mạng dân chủ tư sản. Lần
đầu tiên trong lịch sử dân tộc Việt Nam,
tư tưởng dân chủ, dân quyền được
đưa ra, được khẳng định,
được xem là mục tiêu của phong trào cách mạng.
Vấn đề xây dựng nền học
thuật mới, phát triển kinh tế tư bản chủ
nghĩa cũng là nội dung hoàn toàn mới mẻ.
Chưa bao giờ trong văn học Việt
Phan Bội Châu là một tác gia tiêu biểu cho ḍng
văn học yêu nước và cách mạng giai đoạn
này. Sáng tác của ông biểu hiện vai
tṛ là dấu nối của hai thời đại, hai nền
văn học cũ và mới. Ông xuất
thân từ một nhà nho, thông thạo lối văn cử tử,
từng được mệnh danh “hay chữ nhất nước
Không chỉ ở văn học
cách mạng mà cả văn học hợp pháp, các h́nh thức
nghệ thuật cũ vẫn được sử dụng
trong sáng tác. Đông Hồ, Tương Phố, Hoàng Ngọc
Phách đă thổ lộ t́nh cảm riêng tư, thầm kín của
ḿnh bằng những h́nh ảnh cũ kĩ, thông qua các bài
thơ Đường cổ kính, xen giữa những câu
văn xuôi, những câu văn biền ngẫu. Họ đă thổi vào văn chương hợp
pháp bấy giờ một nỗi buồn mênh mông, da diết.
Nó mới so với những nỗi buồn
trong thơ trước đây nhưng cũng chưa phải
là nỗi buồn của các nhà thơ lăng mạn ở giai
đoạn 30- 45. Chất sầu thảm bi
thương được gợi lên ở đây và sự
tấn công vào thế giới bên trong của con người,
trong sáng tác của họ đă chuẩn bị cho sự ra
đời của Thơ mới về
sau.
2.2.
Ở giai đoạn đầu thế kỉ XX, có nhiều
tác giả do tiếp thu ảnh hưởng của văn học
phương Tây, từ công tác dịch thuật họ đă
chuyển dần sang phỏng tác theo các tác phẩm văn học
Pháp. Họ đi đến viết tiểu
thuyết, truyện ngắn, kịch. Đó
là những thể loại mới- thể loại văn học
hiện đại. Họ đă từ bỏ văn
chương chữ Hán, tránh dùng những điển cố,
điển tích, đưa lời ăn tiếng nói của
nhân dân vào trong sáng tác văn học. Họ cố gắng
vượt khỏi
những ước lệ khắt khe khi xây dựng
thế giới nhân vật. Có thể nói rằng,
về mặt nghệ thuật, họ đă có những
đổi mới đáng kể, mặc dù không tránh khỏi
những hạn chế nhất định. Điều muốn nói ở đây là trong lớp
vỏ có phần mới mẻ ấy, họ vẫn tiếp
tục thể hiện những nội dung cũ kĩ, thậm
chí bị xem là lạc hậu lỗi thời. Trong ba
mươi năm đầu thế kỉ, có nhiều nhà
tiểu thuyết Nam bộ, có cả những nhà viết kịch
ở Bắc bộ tiếp tục thể hiện những
vấn đề đạo lí trong sáng tác của ḿnh. Tuy
nhiên, đạo lí đó có phần nào vượt ra ngoài
quan niệm của Nho giáo và tiến gần đến
đạo lí b́nh dân của người lao
động.
Khi
viết tiểu thuyết, các tác giả
Hồ Biểu Chánh đă đưa vào
trong tác phẩm của ḿnh những chi tiết đời
thường và đă sử dụng ngôn ngữ b́nh dân, giản
dị trong sáng tác. Đó là những yếu tố
chưa từng xuất hiện trong văn chương
trung đại. Mặc dù Hồ Biểu
Chánh c̣n nhiều hạn chế trong nghệ thuật
nhưng vẫn có thể khẳng định ông là “cây bút
sáng giá” của giai đọan 1912- 1932 bởi ông đă
đạt được những tiến bộ về
nghệ thuật. Chính ông là người xây nền,
tạo móng cho tiểu thuyết Việt
Kịch là một loại h́nh nghệ thuật sân
khấu rất mới, có giá trị văn học, chỉ
xuất hiện từ khi có sự du nhập của nền
văn hóa phương Tây. Một số tác giả tiêu
biểu thời này như Vũ Đ́nh Long, Nam Xương
đă dùng thể loại hoàn toàn mới mẻ này
để phản ánh hiện thực xă hội
đương thời. Đời sống của các gia
đ́nh phong kiến bị phá sản, sự hư hỏng
của con người trong xă hội tư sản, hiện
tượng lai căng mất gốc... Tuy
nhiên, mọi vấn đề được các ông
đưa lên sân khấu để bóc trần sự thật,
để phê phán hay đả kích đều xuất phát từ
lập trường đạo lí, nhằm củng cố nền
luân lí cổ truyền của dân tộc. Cho nên, chưa thể xem nội dung đó là hoàn
toàn mới lạ. Khán giả
đương thời hưởng ứng nồng nhiệt
bởi những vấn đề hăy c̣n xưa cũ ấy
được thể hiện trong một h́nh thức rất
mới.
2.3.
Sự kết hợp hai yếu tố cũ và mới trong
cả hai phương diện nội dung và nghệ thuật
là hiện tượng phổ biến nhất trong văn học
giai đoạn đầu thế kỉ XX. “Tố Tâm” của Hoàng Ngọc
Phách là một tác phẩm tiêu biểu mang nhiều yếu tố
pha tạp hai giá trị truyền thống
và hiện đại. Hoàng Ngọc Phách đă để cho
hai nhân vật Tố Tâm và Đạm Thuỷ giằng co giữa
hai con đường: chạy theo t́nh
yêu tự do hay chấp nhận lễ giáo phong kiến. Đạm Thuỷ khuyên Tố Tâm đi lấy chồng
để nàng được vẹn chữ hiếu và chàng
được giữ chữ tín nhưng ḷng th́ không muốn
rời xa Tố Tâm. C̣n Tố Tâm thường khẳng
định về t́nh yêu của ḿnh: “Em đă yêu anh th́ không thể yêu ai được nữa,
mà cũng không muốn yêu ai. Đă không yêu th́ không lấy”
(Tố Tâm, trang 51). Nhưng
rồi nàng cũng phải đem t́nh yêu mà đặt
trước chữ hiếu để cân nhắc, lựa
chọn. Cả hai đều có những giấc
mơ yêu đương, đầy chất lăng mạn.
Họ từng nghĩ đến chuyện đem nhau đi
trốn ở một nơi “thâm
sơn cùng cốc, hay góc bể chân trời nào không ai biết
để cùng nhau hưởng cuộc ái ân
trăm năm” (Tố Tâm, trang 52). Thế
mà cuối cùng cũng chính họ để cho “t́nh gia quyến” “đánh đổ được
những ảnh hưởng mới”, mà giữ họ lại.
Tác phẩm “Tố
Tâm” khép lại trong kết thúc bi thảm. Tố Tâm
chết, Đạm Thuỷ sống trong đau khổ, bị
dằn vặt v́ nỗi nhớ thương người
xưa, mặc dù tác giả đă cố t́nh tạo cho chàng
một cơ hội mới (lập nghiệp), nhằm giúp
chàng thoát khỏi “bể sầu,
núi thảm”. Nhưng hạnh phúc vẫn
không thể đến được. Với “Tố Tâm”, người tuân thủ
đạo đức truyền thống đă không có hạnh
phúc trong chế độ đại gia đ́nh phong kiến,
mà người muốn sống hết ḿnh cho t́nh yêu tự
do cũng không thể đón nhận hạnh phúc trong t́nh
yêu. Cả đôi đường đều
không thể trọn vẹn, con người bị lâm vào thế
bế tắc. Nguyên nhân bắt nguồn
từ trạng thái lưỡng phân, giao thời của xă hội.
Hoàng Ngọc Phách đă đem cái tôi tư sản
đặt bên cạnh lễ giáo phong kiến và ông chỉ
nói đến cái tôi trong thế cạnh tranh với đạo
đức phong kiến. Trường hợp
của Hoàng Ngọc Phách là trường hợp tiêu biểu
và phổ biến ở giai đoạn đầu thế kỉ
XX. “Tố Tâm” là tác phẩm
được sáng tác bằng phương pháp lắp ghép
nghệ thuật viết văn của nhà nho (văn biền ngẫu, văn
xuôi xen kẽ với văn vần, ngôn ngữ bóng bẩy...)
với nghệ thuật sáng tác của người nghệ
sĩ hiện đại (văn
tiểu thuyết, kết cấu mới, kết thúc không có
hậu, khai thác yếu tố đời tư của nhân vật).
Chính sự lắp ghép và pha tạp các yếu tố cũ,
mới đă làm cho “Tố Tâm”
vừa thể
hiện chất hiện đại nhưng vẫn mang dáng
dấp truyền thống. Đó chính là “tính giao thời” của tác phẩm.
3. Nh́n chung, văn học
giai đoạn này c̣n rất nhiều tác phẩm, tác giả
có sự kết hợp như trên, tạo nên những giá trị
văn học có tính chất trung gian giữa truyền thống
và hiện đại. Truyện ngắn của Nguyễn Bá
Học, Phạm Duy Tốn, Hồ Biểu Chánh, thơ
văn Tản Đà, Trần Tuấn Khải... Người viết chỉ nêu một số
trường hợp tiêu biểu để chứng ḿnh
văn học giai đoạn đầu thế kỉ XX là
dấu nối giữa hai nền văn học cũ và mới.
Dấu nối đó được tạo nên bằng sự
lắp ghép, pha tạp các yếu tố cũ
và mới trong nghệ thuật lẫn nội dung.
Có
thể khẳng định rằng trong lịch sử
văn học Việt Nam, đây là giai đoạn duy nhất
có sự tồn tại đan xen hai nội dung văn học
của nhà nho và người sáng tác mới. Các
giá trị truyền thống được đặt cạnh
một số thành tựu hiện đại và luôn trong thế
cạnh tranh nhau. Tính giao thời của văn học
thể hiện ở sự lắp ghép, pha tạp các yếu
tố cũ và mới ở văn học trung đại
và hiện đại, phải có yếu tố xúc tác là ảnh
hưởng của văn học phương Tây mới có
thể tạo ra kết quả như trên. Đối
với văn học của các nước khác, tính giao thời
thuộc về thế kỉ trước. Riêng ở Việt
Văn học giai đọan 1900 - 1930 có xu hướng
tiến gần đến hiện đại. Đối
với người cầm bút thời này, văn học hiện
đại là khu vườn quyến rũ
đầy những hoa thơm cỏ lạ. Phát
hiện ra nó là một chuyện, nhưng đến với
nó là một chuyện khác. Bởi v́ họ “không có đủ độ sâu và độ
đúng của lí luận, không đủ học vấn
để kế thừa truyền thống và tiếp thu ảnh hưởng của văn học
nước ngoài một cách hợp lí và sáng tạo” (2,
337). Đối với các nhà văn, nhà thơ thời này,
quan niệm thẩm mĩ có thay đổi, thế giới
quan và nhân sinh quan đă khác trước nhưng họ
chưa được trang bị chu
đáo về mặt lí luận. Họ đă
đến với văn học hiện đại trong sự
nhận thức chưa được trọn vẹn về
mọi phương diện. Điều này đă làm hạn
chế khả năng sáng tác của họ. Họ không thể
bỏ qua sự dung hoà truyền thống và hiện đại.
Thói quen cũ và ư thức mới tạo nên những biến dạng
trong nghệ thuật sáng tác của rất nhiều tác giả
thời này. Nh́n chung, trong 30 năm đầu thế kỉ
XX, do tác động của nhiều nguyên nhân khách quan và chủ
quan, các tác giả đă “lắp
ghép một cách máy móc cái truyền thống và hiện đại”
khi sáng tác. Hạn chế đó mang tính tất yếu của
một giai đoạn chuyển biến trong lịch sử
văn học từ phạm trù văn học trung đại
sang phạm trù văn học hiện đại.
Tài liệu
tham khảo:
1- Nguyễn
Đ́nh Chú- Tài liệu bồi dưỡng giảng dạy
sách giáo khoa lớp 11 CCGD môn Văn học- Hà Nội- 1991.
2- Trần
Đ́nh Hượu- Lê Chí Dũng- Văn học Việt nam
giai đoạn giao thời 1900 - 1930 - NXB ĐH và THCN- 1980.
3- Hoàng
Phê (chủ biên)- Từ điển tiếng
Việt- NXB Đà Nẵng- Trung tâm Từ điển học-
Hà Nội- Đà Nẵng- 1995.
Nguồn: Kỷ
yếu “Hội nghị khoa học
và cải tiến phương pháp giảng dạy” - Khoa Sư phạm-
Trường Đại học Cần Thơ- Năm 2001-
Tr 127- 131
©2006 hobieuchanh.com