Vài nét về
phong cách ngôn ngữ tiểu thuyết Hồ Biểu Chánh
Huỳnh
Thị Lan Phương, Nguyễn Văn Nở
1. Hồ Biểu Chánh là một
nhà văn lớn của Nam Bộ. Người có công mở
đường cho nền tiểu thuyết Việt
Những năm đầu
thế kỉ XX, văn hoá phương Tây đă ảnh
hưởng lớn đến văn hoá Việt
2. Cù Đ́nh Tú có nhận
xét: “Phong cách của Hồ Biểu
Chánh là phong cách viết như nói, nói tiếng mà dân chúng
2.1. Như chúng ta
biết, phương ngữ mỗi miền đều có
cách phát âm riêng. Những biến thể phát âm này sẽ bộc
lộ rơ trong giao tiếp khẩu ngữ. Trong ngôn ngữ viết,
các biến thể phát âm trên ta không thấy lộ ra do yêu cầu
của chính tả. Tuy nhiên, trong tác phẩm văn
chương, để miêu tả đúng cách nói năng
riêng của từng nhân vật, ở những địa
bàn khác nhau, nhà văn có thể khai thác các biến thể
phát âm nói trên bằng cách ghi lại đúng cách phát âm của
nhân vật qua con chữ. Dù không nhiều, nhưng trong tiểu
thuyết của Hồ Biểu Chánh, chúng ta cũng thấy
những biến thể phát âm nói trên. Nó không chỉ xuất
hiện trong lời đối thoại của nhân vật
mà c̣n trong ngôn ngữ tác giả. Những biến thể
phát âm này thường diễn ra ở bộ phận âm
chính và đấy thường là hiện tượng rút ngắn
độ mở của nguyên âm: nghĩa
nhơn/ nghĩa nhân; đờn ông/ đàn ông; đờn
bà/ đàn bà; bất nhơn/ bất nhân; chúa nhựt/ chúa nhật;
huê viên/ hoa viên; hoan nghinh/ hoan nghênh; lum khum/ lom khom; phước/
phúc; bịnh/ bệnh; hun/ hôn; từng/ tầng; chơn/
chân; hườn/ hoàn; nưng/
nâng... Ví dụ như:
- “Cậu mợ làm phước
cho ít đồng xu mua cơm ăn.” (Khóc thầm, trang 67)
- “Chưa được một năm th́ cậu mang bịnh mà chết”. (Con nhà nghèo, trang 226)
- “Thu Hà nghe mấy lời bất
nhơn của chồng th́ cô lấy làm bất b́nh”
(Khóc thầm, trang 68)
- “Con Tư, là đứa tớ gái của bà, hai tay cầm
cây chổi cứ lum khum
quét nhà, nó quét bụi bay ngang qua mấy ánh mặt trời dọi
vô kẹt cửa coi như mấy lằn khói chứa
trăm ngàn vi trùng nhảy múa tưng bừng.” (Tại tôi, trang 05)
Những biến thể phát âm về phụ âm đầu
xuất hiện trong tiểu thuyết không nhiều và cũng
không phải tiêu biểu nhưng chúng tôi cũng ghi nhận
được một số trường hợp sau: mắc / đắc; hửi /ngửi; nhỏ mức/ nhỏ rức; nhắm
nhía/ ngắm nghía; day/ quay... Ví dụ:
- “Cực chẳng đă phải mua, chứ mắc quá” (Con nhà nghèo, trang 229)
- “Tối ngày hửi
mùi hôi dưới đường mương hoài. “ (Chút phận linh đinh, trang
06)
- “Chơn mày nàng cong ṿng
mà lại nhỏ mức.” (Ngọn cỏ gió đùa, trang 71)
- “Ông Phán day mặt chỗ khác.” (Thiệt giả giả thiệt, trang 61)
- “Chúa Tàu ngó Thu Thuỷ
đợi nhắm nhía áo quần
cho xong rồi mới hỏi.” (Chúa Tàu Kim Quy, trang 110)
Hồ Biểu Chánh đă thể hiện phần nào
đặc điểm phát âm của người
2.2. Tài năng,
phong cách của người nghệ sĩ bộc lộ chủ
yếu qua cách vận dụng vốn từ vựng vào tác
phẩm đúng cách, đúng chỗ, đúng mục đích.
Khi viết tiểu thuyết, Hồ Biểu Chánh đă có dụng
ư hướng đến quảng đại quần chúng.
Đối tượng công chúng lớn nhất của ông
là giới b́nh dân. V́ thế Hồ Biểu Chánh đă chú ư sử
dụng từ ngữ thật giản dị, mộc mạc,
gần gũi, dễ hiểu. Từ ngữ trong tiểu
thuyết Hồ Biểu Chánh phần lớn nằm trong hệ
thống tiếng Việt toàn dân và luôn giữ được
chất b́nh dị tự nhiên. Trong bối cảnh văn
chương truyền thống hăy c̣n ảnh hưởng
sâu nặng đến người sáng tác và độc giả,
làm được việc này quả là không đơn giản!
Điều đó càng thể hiện rơ đóng góp to lớn
của Hồ Biểu Chánh đối với văn học
hiện đại. Và một trong những dấu ấn
riêng của Hồ Biểu Chánh về mặt từ ngữ
là ông đă vận dụng một cách khéo léo và phong phú lớp
từ địa phương
2.2.1. Người đọc
sẽ bắt gặp nhiều từ ngữ quen thuộc,
phổ biến ở vùng đất Nam bộ trong tác phẩm
Hồ Biểu Chánh như: nín
khe, giống ǵ, ngó, buồn hiu, té ra, lạ hoắc, xí
được, chưng dọn, hẳn ḥi, thiệt tốt,
quấy, bề nào, khoái chí, mấy bữa rày, hổm nay, mừng
quưnh, cứng cát, riu ríu, rán, từ rày sắp lên, lục
đục, đi riết, không dè, om ṣm, không thèm, lật
đật, lung lắm, cẳng,
hàng tư... Ví dụ như:
- “ Trăng thanh gió mát mà Duy Linh nhớ tới Phi Phụng
có chồng mồ hôi rịn hai
bên màng tang ướt đầm, lật đật thúc
bước đi riết về nhà không dám nghểu nghến
một ḿnh ngoài đường vắng. Anh ta lầm lũi
đi vô tới Châu Thành, tiếng giầy khua dưới
đá nghe lốp bốp, chó ngủ trước cửa nhà ở
dựa đường giật ḿnh chạy ra đứng sủa
om ṣm. Anh ta cứ ngó xuống đất mà đi, không thèm kể
đến.” (Nhơn t́nh ấm
lạnh, tr 25)
- “Thằng Phùng với một người nữa Thị
Tố không biết tên, đương ngồi chàng háng ngoài
hàng tư” (Con nhà nghèo, tr
52)
- “Mợ dằn ḷng nhịn thua mà coi bộ tức giận
lung lắm “ ( Con nhà nghèo,
tr155)
2.2.2 Nhiều từ địa
phương nếu không dựa vào văn cảnh hoặc nếu
không có vốn từ địa phương
- đụng: nam nữ lấy nhau
- để vợ, để chồng: li dị
- ḍm, coi: xem
- bắt xén: nhen nhúm, bắt đầu
- ể ḿnh: bệnh
- ám sát: bám theo
- trọng: khá lớn
- day mặt: quay mặt
- ráng: cố gắng
- dè: ngờ
- bận đi, bận về: chuyến đi, chuyến
về
- riết: nhanh
- xăng xớm: (đi) mau
- xấp xải: bay qua bay lại
- trằn: giữ lại, níu lại...
Lớp từ này
thường được sử dụng trong ngôn ngữ
đối thoại nhằm miêu tả tâm lí và khắc hoạ
tính cách nhân vật.
2.2.3 Hồ Biểu Chánh đă khai thác triệt để
lớp khẩu ngữ
Ví dụ: “ Con Quyên ra đi th́ ḷng mừng khấp
khởi, miệng chúm chím cười. Tuy nó mặt đồ
vải bô, song mặt nó trắng tươi môi nó đỏ
ḷm, g̣ má nó tṛn v́n, chân mày nó nhỏ mứt, bàn tay nó dịu nhĩu, tướng
nó đi khoan thai.” (Cha con nghĩa
nặng, 109).
C̣n đây là lời
của nhân vật: “Bên Tây nhà
giàu họ xài tiền
đúng lắm, nhằm chuyện bao nhiêu họ cũng không
tiếc, c̣n không nhằm chuyện, dầu một đồng điếu họ
cũng không loại, chớ không phải họ xài như ḿnh vậy đâu”
(Khóc thầm, tr 66).
Và với lời
thuật truyện tác giả cũng dùng từ khẩu ngữ,
điều mà nhiều nhà văn ít khi vận dụng: “Trần Văn Sửu nín khe, bỏ đi thẳng
vô nhà bếp. Anh ta thấy bếp núc lạnh tanh, mà sắc
mặt chẳng có một chút giận nào hết. Anh ta xách nồi
đi xúc gạo đem vo, rồi nhúm lửa bắt lên mà nấu.
Thị Lựu không hề léo vô
bếp.” (Cha con nghĩa nặng,
tr 7)...
Đưa từ
khẩu ngữ vào tác phẩm văn chương, đó là một
sự thay đổi lớn về quan niệm sáng tác.
Trước thế kỉ XX, các nhà văn nhà thơ thường
chú trọng đến yếu tố ngôn ngữ. Đối
với họ, ngôn ngữ văn chương cần phải
qua sự sàng lọc cẩn thận. Càng “cầu ḱ bóng bẩy “ sẽ càng “trang trọng đài các” như thế mới “Lời lời châu ngọn hàng
hàng gấm thêu”. Cùng thời với Hồ Biểu Chánh,
nhiều tác giả khác như Hoàng Ngọc Phách, Nguyễn Bá
Học, Phạm Duy Tốn, Nguyễn Trọng Thuật... vẫn
giữ cung cách gọt giũa cẩn thận từng câu chữ.
V́ thế họ chưa tạo được nét mới về
ngôn ngữ qua sáng tác của ḿnh. Ngôn ngữ trong tác phẩm
của họ có điểm chung là xa lạ với tiếng
nói hàng ngày của quần chúng, rất kiểu cách, cầu
ḱ. Sự xuất hiện của từ khẩu ngữ với
tần số không nhỏ đă làm cho tiểu thuyết Hồ
Biểu Chánh có sự gần gũi, quen thuộc với
công chúng b́nh dân. Người đọc có cảm giác như
được nghe chính tiếng nói của ḿnh, được
chia sẻ, được cảm thông. V́ thế, tiểu
thuyết Hồ Biểu Chánh đă mang màu sắc của
chính cuộc sống thực. Đưa từ khẩu ngữ
vào tác phẩm văn chương đă trở thành sở
trường của Hồ Biểu Chánh. Đây là một
đóng góp đáng kể đối với văn học hồi
đầu thế kỉ, Hồ Biểu Chánh đă “khẳng định có thể
dùng khẩu ngữ của dân chúng
Tuy nhiên, trong quá
tŕnh sử dụng khẩu ngữ, Hồ Biểu Chánh
để lại một ít hạn chế. Ông chưa chú ư
sàng lọc, chưa tập hợp những tinh hoa của khẩu
ngữ
- “Tao đánh bài, dầu có thua đi nữa, th́ tao thua tiền
của tao, chứ phải tiền bạc của cha mẹ
mày chở đến đây hay sao mà mày nói? Tao là con nhà giàu,
từ nhỏ đến lớn tao ăn xài bài bạc
chơi đă quen rồi chứ phải quân ăn mày coi đồng
bạc như cái bánh xe đâu. Mày có chê tao th́ mày để tao ra rồi
đi cưới vợ khác đi. Cha chả! Mày tưởng
tao màng cái tuồng mặt mày lắm sao? Bực mày là đồ
bỏ đa, đừng có làm phách?” (Thầy Thông ngôn, tr 83).
- “Hả! Mày nói sao? Cái léo mẹ tiên tổ mày, mày hư,
mày thúi, mày làm đĩ lấy trai ở đâu cho có chửa,
bụng thè lè, rồi bây giờ mày nói xán xă cho cháu tao hả?
Cháu tao như rồng như phụng, c̣n mày là quân ăn mày,
mày rửa đít cho nó cũng chưa được, sao mày
dám nói như vậy?” (Nợ
đời, tr 39)
Dường
như Hồ Biểu Chánh muốn diễn tả thật cụ
thể, sống động tính cách của những nhân vật
phản diện. Bởi cách nói năng như trên thường
được tác giả mớm vào cửa miệng của
những kẻ độc ác, ích kỉ tham lam hay hư thân
mất nết. Thế nhưng, vẫn có trường hợp
không hẳn như vậy. Trong tác phẩm “Thầy thông ngôn”, tác giả miêu tả cô Sáu Lư là một
cô gái khôn khéo, lanh lợi nhưng không kém phần nết na.
Thế mà, có những đoạn văn viết về cô
gái ấy hay thuật lại lời đối thoại của
cô Sáu Lư vẫn có nhiều từ khẩu ngữ mang sắc
thái thô thiển nặng nề. Ví dụ: “Cô đợi một hồi lâu không nghe thầy trả
lời, cô mới đứng dậy hỉ mũi mà nói...” (trang 46) hay: “Thầy thúi lắm, làm trai như vậy nên lắt cái mặt mà quăng
đi” (trang 48).
Đây là một đặc điểm chung của
văn xuôi quốc ngữ
2.2.4. Từ láy
không thể thiếu được khi nhà văn quan tâm
đến giá trị biểu cảm của ngôn ngữ
văn chương. Hồ Biểu Chánh không là một ngoại
lệ. Ở tiểu thuyết của ông., chúng ta bắt gặp
hàng loạt từ láy: láo liên, lựng
khựng, om x̣m, trả treo, lằng nhằng, tả tơi,
lơn tơn, lăng xăng, xó ró, nhùn nhục, trộ trạo,
chơm bơm, chim bỉm, xẻn lẻn, riu ríu, ng̣n nghẻn,
tèm lem, xẩn bẩn, bợ ngợ, ké né, lật đật,
cằn rằn, nhăn nhín, trèo trẹo...
Những từ láy được Hồ Biểu
Chánh dùng trong tác phẩm thường xuất hiện với
tư cách là động từ hay phó từ. Có từ láy thuộc
hệ thống ngôn ngữ toàn dân nhưng phần lớn là
những từ được sử dụng trong phạm
vi hẹp, phần nào mang tính thời đại. Nếu
không đặt vào văn cảnh cụ thể sẽ khó giải
thích được ư nghĩa của từ và những từ
ấy đến nay không c̣n phổ biến, ngay cả trên
vùng đất
- “Thu Hà thấy chồng, cô không ái ngại chi hết, có
lúc cô đứng gần một bên chồng, có chuyện cô
phải nói với chồng, mà dầu đứng gần
hay nói chuyện cô cũng giữ tư cách tự nhiên, cô chẳng
hề ké né, bợ ngợ”
(Khóc thầm, trang 54)
- “Anh ta mặc một cái áo đen màu nhùng nhục, một cái quần vắn lai đứt
tả tơi, đầu bịt trùm cái khăn rằn, miệng
ngậm trầu một búng” (Cha
con nghĩa nặng, trang 05)
- “Thu Hà thấy người già yếu đói rách, cô
động ḷng nhưng v́ hồi sớm mai cho đến
bây giờ cô cho người ta tiền hai lần, đều
bị chồng trộ trạo,
cô sợ cho nữa bị chồng rầy...” (Khóc thầm, trang 68)
- “Bổn tánh nó trầm tịnh, ít hay nói, ít hay cười,
mà từ ngày mẹ nó chết, cha nó mất rồi, th́ nó
càng chim bỉm không chịu
chơi bời với con nít lối xóm...” (Cha con nghĩa nặng, trang
91)
Góp phần quan trọng
vào việc tăng thêm tính h́nh tượng, sinh động
và cụ thể trong việc việc miêu tả ngoại
h́nh, tâm lí, tính cách nhân vật... là lớp từ láy tư. Lớp
từ này xuất hiện với một tần số khá
cao và cũng góp phần tạo nên phong cách ngôn ngữ Hồ
Biểu Chánh như: lao nhao lố
nhố, dấp dính dấp dưới, chộn rộn chàng
ràng, hun trơ hun trất, lu ầm lu ́, xui xị xụi
lơ, lăng xăng lít xít, chết ngắt chết ngỏm,
bù xa bù xích,... Ví dụ:
- “Lúc mặt trời chen lặn, tại nhà ga xe lửa
Tân An, thiên hạ lao nhao lố
nhố, người đợi xe đi Mỹ Tho th́ sắp
soạn hành lí lăng xăng, kẻ chực rước
người ở Sài G̣n về th́ đi tới đi lui
lóng nhóng.” (Thầy Thông ngôn,
trang 460)
- “Thầy thông Phong nằm mê sảng, bứt áo giựt
tóc, một lát chờn vờn ngồi dậy muốn chạy,
miệng nói tía lia, song thầy nói dấp dính dấp dưởi, không biết nói việc
ǵ...” (Thầy Thông ngôn,
tr 551)
- “Lúc ấy, Trần Văn Sửu mất trí khôn, hết
nghị lực máu trong tim chảy th́nh thịch, nước
trong con mắt tuôn ṛng ṛng, đứng xui xị xụi lơ, không nói được mốt
tiếng chi hết.” (Cha con
nghĩa nặng, trang 177-178)
Những từ láy xuất hiện trong tiểu thuyết
Hồ Biểu Chánh thể hiện rơ tính chất
phương ngữ. Cùng với từ khẩu ngữ, từ
địa phương, từ láy đă góp phần tô đậm
sắc thái
2.1.5. Hồ Biểu
Chánh c̣n đưa vào tác phẩm nhiều thành ngữ. Lớp
từ này được tác giả vận dụng rất
đa dạng và phong phú. Câu văn xuôi của Hồ Biểu
Chánh có tính thuyết phục là nhờ vào thành ngữ. Thành
ngữ cũng góp phần không nhỏ trong việc biểu
đạt t́nh cảm, ghi lại cuộc sống của
người
Ta bắt gặp
trong tác phẩm của ông những thành ngữ ở dạng
nguyên mẫu như: tan
xương nát thịt, sóng dập gió dồi, trôi sông lạc
chợ, no cơm ấm áo, mặt dạn mày dày, lên xe xuống
ngựa, ngậm đắng nuốt cay, đủ lông
đủ cánh, chịu đấm ăn xôi,...
Nét riêng trong sự
vận dụng và mang đậm tính
+ Cải biến
cách phát âm: Tu nhơn tích đức
(tu nhân tích đức), nhắm mắt đưa chơn (nhắm
mắt đưa chân), tâm
đầu ư hiệp (tâm đầu ư hợp), cải tử
hườn sanh (cải tử hoàn sinh)... Ví dụ:
- “Tôi tu
nhơn tích đức không muốn sanh sự.” ( Ai làm được, tr 439)
- “Cha cấm tuyệt không cho thấy được nữa,
vậy th́ chàng phải nhắm
mắt đưa chơn mà bước vào đường
đời.” (Chúa tàu Kim Quy,
tr 30)
+ Cải biến
từ vựng: ghẹo nguyệt
giỡn hoa (ghẹo nguyệt trêu hoa), ma cũ ăn hiếp
ma mới (ma cũ bắt nạt ma mới), chuột rớt
trong hũ nếp (chuột sa hũ nếp), dầm
sương gội nắng (dầm sương dăi nắng),
xót ruột bầm gan (bầm gan tím ruột), nưng
khăn sửa trấp (nâng khăn sửa túi), ... Ví dụ:
- “Ba Thời bổn tánh hà tiện... nuôi gà nuôi vịt
trông cho nó lớn đặng bán...nay biểu chồng th́ xót ruột bầm gan.” (Cay đắng mùi đời,
trang 181)
- Nếu anh chẳng chê em là gái hư hèn, anh khứng
cho em nưng khăn sửa trấp,
th́ em nguyện.” (Chúa tàu Kim
Quy, trang 156)
Hồ Biểu
Chánh đă chắt lọc và sáng tạo lại lời
ăn tiếng nói của nhân dân và vận dụng vào trong
sáng tác của ḿnh. Điều này không chỉ góp phần làm
nên phong cách ngôn ngữ trong tiểu thuyết của ông mà
c̣n là sự đóng góp của nhà văn vào kho tàng ngôn ngữ
dân tộc.
2.1.6. Hồ Biểu Chánh là một nhà
văn có sự thận trọng trong việc sử dụng
từ ngữ, chính ông đă tạo cho ngôn ngữ trong
văn xuôi có được những đặc điểm
mới, đưa văn xuôi Quốc ngữ đi vào con
đường hiện đại. Kể từ Hồ Biểu
Chánh, ngôn ngữ trong tác phẩm văn chương và ngôn ngữ
trong cuộc sống không c̣n khoảng cách như trước
kia. Đó là đóng góp to lớn, là thành công đáng ghi nhận
của Hồ Biểu Chánh. Tuy nhiên, đọc tiểu thuyết
Hồ Biểu Chánh người đọc đă phải
xuưt xoa, tiếc nuối v́ trong bát cơm trắng trong
đôi khi c̣n rơi rớt mấy hạt sạn vô t́nh. Có
nhiều từ ngữ Hồ Biểu Chánh đưa vào tác
phẩm chưa thật hợp nghĩa khi đặt vào
văn cảnh cụ thể. Thậm chí có những từ
chưa đúng.
Ví dụ: “Mày đặt chuyện bậy bạ!
Nó lấy ai đâu có chửa. Sao mày dám nói xán xả cho cậu Hai. “ (Từ “xán xả”
đặt vào câu văn trên chưa thật hợp nghĩa.
Dụng ư của tác giả muốn diễn tả lời của
nhân vật này cho nhân vật kia đă áp đặt tội lỗi
vào người khác.)
- “Thu Vân nghe như vậy lại càng ráng sức lo lắng
hơn nữa, đă lo tráo trở
vật ăn cơm, mà trưa lại c̣n làm bánh, tối lại
c̣n chưng trứng gà, đặng cho ông ăn giải lao.”
(Chút phận linh đinh, tr
177) (Từ “tráo trở” mang ư nghĩa âm tính, thường
dùng để chỉ một hành động xấu. Với
việc làm của Thu Vân không thể dùng từ “tráo trở” để miêu tả)
- “ T́nh cảm của em nặng nề,
xâu xia, nó có thể đè em,
nhận em chết được.” (Từ “xâu
xia” không thể dùng để diễn đạt t́nh
cảm).
C̣n nhiều trường hợp khác, mà người
viết chưa thống kê hết trong bài viết này đă
cho thấy hạn chế đáng tiếc về mặt từ
ngữ trong ngôn ngữ tiểu thuyết Hồ Biểu
Chánh.
2.3. Cú pháp cũng
là một yếu tố quan trọng thể hiện đặc
điểm ngôn ngữ tiểu thuyết Hồ Biểu
Chánh. Câu văn xuôi của ông thể hiện nét đặc
trưng của văn học giai đoạn giao thời:
cái cũ, cái mới đan xen nhau. Hồ Biểu Chánh
chưa thể “đoạn t́nh” với câu văn biền ngẫu,
có vần có đối. Nhưng mong muốn đổi mới
đă thôi thúc ông tiếp nhận lối văn “trơn tuột như lời nói
thường”. Ngay trong cùng một tác phẩm, tiểu
thuyết của Hồ Biểu Chánh vẫn có hai cách viết
văn như đă nói. Ví dụ tác phẩm “Con nhà nghèo” có nhiều đoạn được
viết h́nh thức tự nhiên như lời ăn tiếng
nói của người
Nhưng cũng
không hiếm những đoạn văn có sự nhịp
nhàng đăng đối như lối văn biền ngẫu:
“Một buổi chiều, trời
mưa mới dứt hột, nào trong rào cây cỏ c̣n loi
ngoi, trước sân nước ứa đọng thành vũng.
Mấy đám ruộng nào lúa cấy đă bén rồi th́
phơi mào xanh lét, c̣n mấy đám ruộng mới cấy
vài bữa, th́ màu c̣n vàng khè.
Trong bưng, ễnh ương nối nhau
mà khóc, tiếng nghe uềnh oang. Sau hè nhái nhỏ đua nhau
mà la, tiếng nghe lét chét.” (trang 168)
Những đoạn
văn cầu ḱ, trau chuốt đă điểm xuyết cho
lối văn dung dị tự nhiên “trơn tuột như lời nói thường”. Có
lẽ Hồ Biểu Chánh đă rút ra bài học kinh nghiệm
từ trường hợp của Nguyễn Trọng Quản.
“Truyện Thầy Lazarô Phiền”
ra đời với lối văn trơn tuột như lời
nói thường đă làm nên một bước đột
phá trong văn học. Nhưng độc giả
đương thời chưa chấp nhận cách viết
văn thoát khỏi hẳn cách viết truyền thống.
Chính cách viết của Hồ Biểu Chánh đă mang đến
cho người đọc lúc
bấy giờ một món ăn tinh thần rất hợp
thị hiếu.
Câu văn giản dị tự nhiên, b́nh dân trong tiểu
thuyết Hồ Biểu Chánh đă góp phần làm nên sự
thành công của tác giả khi thể hiện tính cách của
con người
Những câu
văn nhịp nhàng, đăng đối đă chứng
minh hiện đại hoá không có nghĩa là đoạn tuyệt
với truyền thống. Sự thay thế dần dần,
đó là cách giải quyết sáng suốt nhất sẽ
đáp ứng được yêu cầu của thời
đại. Nhưng thật đáng tiếc, v́ những
năm về sau, nhất là sau năm 1932, Hồ Biểu
Chánh vẫn giữ nguyên cách viết như thế. Do
đó, ở phương diện này tiểu thuyết Hồ
Biểu Chánh đă không theo kịp xu thế phát triển
chung của văn học dân tộc.
3. Khi viết tiểu
thuyết, Hồ Biểu Chánh không có dụng ư làm cách mạng
về nghệ thuật trong văn chương. Nhưng những
cố gắng cách tân cùng với sự khéo léo của ông
đă biến ngôn ngữ đậm phong cách khẩu ngữ
trở thành ngôn ngữ văn chương. Ngôn ngữ tiểu
thuyết Hồ Biểu Chánh đánh dấu sự khởi
đầu cho bước phát triển của câu văn xuôi
hiện đại. Qua ngôn ngữ tiểu thuyết Hồ
Biểu Chánh, chúng ta thấy rơ ông là một nhà văn đă
miệt mài “lao động ngôn
ngữ”, ông viết văn “có
trách nhiệm với nghề nghiệp”. Hồ Biểu
Chánh đă biết chọn cho ḿnh một con đường
ngắn nhất để đi đến thành công, đó
là: “Học tập ngôn ngữ dân tộc, học tập
văn chương của các nhà văn đi trước”.
V́ thế ông đă “viết nên
những tác phẩm có giá trị về nghệ thuật
ngôn từ.” [1,176].
------------------
Tài liệu
tham khảo:
1.
Nguyễn Văn Hạnh, Huỳnh Như Phương - Lí luận
văn học- vấn đề và suy nghĩ - Nhà xuất bản
Giáo dục, năm 1999.
2. Thanh Lăng - Bảng lược
đồ Văn học Việt
3.
Cù Đ́nh Tú - Phong cách học và đặc điểm tu từ
tiếng Việt - Nhà xuất bản Giáo dục, năm
2003.
©2006 hobieuchanh.com