Vài nét về phong cách ngôn ngữ tiểu thuyết Hồ Biểu Chánh

 

Huỳnh Thị Lan Phương, Nguyễn Văn Nở

 

1. Hồ Biểu Chánh là một nhà văn lớn của Nam Bộ. Người có công mở đường cho nền tiểu thuyết Việt Nam hiện đại. Trong buổi b́nh minh của văn xuôi Quốc ngữ hồi đầu thế kỉ XX, khi mà cả người sáng tác và người tiếp nhận tác phẩm văn chương đều c̣n bỡ ngỡ, thậm chí có thành kiến đối với những tác phẩm văn xuôi tự sự Quốc ngữ, Hồ Biểu Chánh đă ra sức tạo dựng và bồi đắp cho thể loại tiểu thuyết hiện đại, đưa nó đến gần với độc giả. Hơn nữa ông đă tạo được sự đồng t́nh của độc giả. Người đương thời và nhiều thế hệ về sau đă đón nhận tác phẩm Hồ Biểu Chánh với tất cả sự nồng nhiệt, trân trọng. Lịch sử văn học Việt Nam không thể phủ nhận đóng góp to lớn của Hồ Biểu Chánh. Một trong những yếu tố làm nên sự thành công ấy chính là tác phẩm của ông có được một h́nh thức ngôn ngữ đầy ấn tượng, ghi dấu một giai đoạn đặc biệt trong lịch sử văn học Việt Nam, giai đoạn chuyển tiếp giữa hai thời ḱ lớn của văn học: trung đại và hiện đại; giai đoạn mở đầu của văn xuôi Quốc ngữ. Đồng thời, ngôn ngữ tiểu thuyết Hồ Biểu Chánh thể hiện phong cách ngôn ngữ văn xuôi Nam bộ những năm cuối thế kỉ XIX đầu thế kỉ XX.

             Những năm đầu thế kỉ XX, văn hoá phương Tây đă ảnh hưởng lớn đến văn hoá Việt Nam nói chung và văn học Việt Nam nói riêng. Cùng với các nhân tố nội sinh, yếu tố ngoại lai ấy đă làm chuyển biến quan niệm của người sáng tác đương thời. Họ bắt đầu có ư thức về việc đổi mới trong sáng tác nghệ thuật. Văn xuôi bắt đầu tạo được sự quan tâm của người cầm bút. Viết như thế nào? Đó là nỗi trăn trở của các nhà văn thời này.  Cách viết cũ, đă sẵn có nhưng “lối ṃn“ ấy mấy ai không thấy chán chường. Cách viết mới, cách viết của  văn học hiện đại, c̣n quá xa lạ đối với người cầm bút lúc bấy giờ. Trong bối cảnh chung ấy, Hồ Biểu Chánh cũng như nhiều nhà văn khác, luôn t́m kiếm cho ḿnh một phương thức thể hiện phù hợp, nhằm tạo được tầm đón nhận rộng lớn của độc giả. Ngôn ngữ là phương diện đă được ông đặc biệt chú ư. Ông đă làm được một việc rất có ư nghĩa đối với tiến tŕnh hiện đại hoá văn học Việt Nam: “đă đập vỡ cái khuôn khổ văn chương đài các đương thời” [2, 16] để đưa vào tác phẩm một hệ thống ngôn ngữ mang tính giản dị, đậm sắc thái Nam bộ. Nhưng ông chưa thể vượt qua “cái ngưỡng” của thời đại. Ngôn ngữ nghệ thuật trong tác phẩm của Hồ Biểu Chánh thể hiện rơ tính chất giao thời của văn học ở đầu thế kỉ XX. Ngôn ngữ ấy đă mang tính chất mới mẻ nhưng vẫn không  thoát li truyền thống. Nhưng có thể nói, Hồ Biểu Chánh đă làm nên một phong cách ngôn ngữ trong tiểu thuyết của ḿnh.

 

2. Cù Đ́nh Tú có nhận xét: “Phong cách của Hồ Biểu Chánh là phong cách viết như nói, nói tiếng mà dân chúng Nam bộ thường dùng hàng ngày vào đầu thế kỉ 20. (...) Điều cần phải ghi nhận ở văn Hồ Biểu Chánh qua cả vạn trang tiểu thuyết của ông là: ông viết tiểu thuyết bằng tiếng của dân chúng vùng đồng bằng sông Cửu Long. Lẽ tự nhiên ai cũng hiểu đó vẫn là tiếng Việt, nhưng đó là tiếng Việt ở một vùng cư dân đông đúc tại nơi phía Nam của Tổ quốc với những đặc sắc riêng của nó.” [3, 310- 312]. Nét đặc sắc riêng đó như thế nào là điều mà chúng tôi t́m hiểu trong bài viết này.

 

2.1. Như chúng ta biết, phương ngữ mỗi miền đều có cách phát âm riêng. Những biến thể phát âm này sẽ bộc lộ rơ trong giao tiếp khẩu ngữ. Trong ngôn ngữ viết, các biến thể phát âm trên ta không thấy lộ ra do yêu cầu của chính tả. Tuy nhiên, trong tác phẩm văn chương, để miêu tả đúng cách nói năng riêng của từng nhân vật, ở những địa bàn khác nhau, nhà văn có thể khai thác các biến thể phát âm nói trên bằng cách ghi lại đúng cách phát âm của nhân vật qua con chữ. Dù không nhiều, nhưng trong tiểu thuyết của Hồ Biểu Chánh, chúng ta cũng thấy những biến thể phát âm nói trên. Nó không chỉ xuất hiện trong lời đối thoại của nhân vật mà c̣n trong ngôn ngữ tác giả. Những biến thể phát âm này thường diễn ra ở bộ phận âm chính và đấy thường là hiện tượng rút ngắn độ mở của nguyên âm: nghĩa nhơn/ nghĩa nhân; đờn ông/ đàn ông; đờn bà/ đàn bà; bất nhơn/ bất nhân; chúa nhựt/ chúa nhật; huê viên/ hoa viên; hoan nghinh/ hoan nghênh; lum khum/ lom khom; phước/ phúc; bịnh/ bệnh; hun/ hôn; từng/ tầng; chơn/ chân;  hườn/ hoàn; nưng/ nâng... Ví dụ như:

- “Cậu mợ làm phước cho ít đồng xu mua cơm ăn.” (Khóc thầm, trang 67)

- “Chưa được một năm th́ cậu mang bịnh mà chết”. (Con nhà nghèo, trang 226)

- “Thu Hà nghe mấy lời bất nhơn của chồng th́ cô lấy làm bất b́nh” (Khóc thầm, trang 68)

- “Con Tư, là đứa tớ gái của bà, hai tay cầm cây chổi cứ lum khum quét nhà, nó quét bụi bay ngang qua mấy ánh mặt trời dọi vô kẹt cửa coi như mấy lằn khói chứa trăm ngàn vi trùng nhảy múa tưng bừng.” (Tại tôi, trang 05)

Những biến thể phát âm về phụ âm đầu xuất hiện trong tiểu thuyết không nhiều và cũng không phải tiêu biểu nhưng chúng tôi cũng ghi nhận được một số trường hợp sau: mắc / đắc; hửi /ngửi;  nhỏ mức/ nhỏ rức; nhắm nhía/ ngắm nghía; day/ quay... Ví dụ:

- “Cực chẳng đă phải mua, chứ mắc quá” (Con nhà nghèo, trang 229)

- “Tối ngày hửi mùi hôi dưới đường mương hoài. “ (Chút phận linh đinh, trang 06)

- “Chơn mày nàng cong ṿng mà lại  nhỏ mức.” (Ngọn cỏ gió đùa, trang 71)

- “Ông Phán day mặt chỗ khác.” (Thiệt giả giả thiệt, trang 61)

- “Chúa Tàu ngó Thu Thuỷ đợi nhắm nhía áo quần cho xong rồi mới hỏi.” (Chúa Tàu Kim Quy, trang 110)

Hồ Biểu Chánh đă thể hiện phần nào đặc điểm phát âm của người Nam bộ. Cách phát âm ấy, đến nay vẫn phổ biến trong phong cách khẩu ngữ. Nhờ đó, Hồ Biểu Chánh đă thể hiện chân thật và sinh động cách nói năng của người dân Nam bộ và góp phần làm nên phong cách ngôn ngữ của tác giả.

 

2.2. Tài năng, phong cách của người nghệ sĩ bộc lộ chủ yếu qua cách vận dụng vốn từ vựng vào tác phẩm đúng cách, đúng chỗ, đúng mục đích. Khi viết tiểu thuyết, Hồ Biểu Chánh đă có dụng ư hướng đến quảng đại quần chúng. Đối tượng công chúng lớn nhất của ông là giới b́nh dân. V́ thế Hồ Biểu Chánh đă chú ư sử dụng từ ngữ thật giản dị, mộc mạc, gần gũi, dễ hiểu. Từ ngữ trong tiểu thuyết Hồ Biểu Chánh phần lớn nằm trong hệ thống tiếng Việt toàn dân và luôn giữ được chất b́nh dị tự nhiên. Trong bối cảnh văn chương truyền thống hăy c̣n ảnh hưởng sâu nặng đến người sáng tác và độc giả, làm được việc này quả là không đơn giản! Điều đó càng thể hiện rơ đóng góp to lớn của Hồ Biểu Chánh đối với văn học hiện đại. Và một trong những dấu ấn riêng của Hồ Biểu Chánh về mặt từ ngữ là ông đă vận dụng một cách khéo léo và phong phú lớp từ địa phương Nam bộ, không chỉ trong ngôn ngữ đối thoại của các nhân vật mà cả trong văn miêu tả, lời thuật truyện của nhà văn. Có thể thấy rơ ngôn ngữ trong tiểu thuyết Hồ Biểu Chánh là một thứ “ngôn ngữ ngồn ngộn chất sống và giàu màu sắc địa phương”.

 

            2.2.1. Người đọc sẽ bắt gặp nhiều từ ngữ quen thuộc, phổ biến ở vùng đất Nam bộ trong tác phẩm Hồ Biểu Chánh như: nín khe, giống ǵ, ngó, buồn hiu, té ra, lạ hoắc, xí được, chưng dọn, hẳn ḥi, thiệt tốt, quấy, bề nào, khoái chí, mấy bữa rày, hổm nay, mừng quưnh, cứng cát, riu ríu, rán, từ rày sắp lên, lục đục, đi riết, không dè, om ṣm, không thèm, lật đật, lung lắm, cẳng, hàng tư... Ví dụ như:

- “ Trăng thanh gió mát mà Duy Linh nhớ tới Phi Phụng có chồng mồ hôi rịn hai bên màng tang ướt đầm, lật đật thúc bước đi riết về nhà không dám nghểu nghến một ḿnh ngoài đường vắng. Anh ta lầm lũi đi vô tới Châu Thành, tiếng giầy khua dưới đá nghe lốp bốp, chó ngủ trước cửa nhà ở dựa đường giật ḿnh chạy ra đứng sủa om ṣm. Anh ta cứ ngó xuống đất mà đi, không thèm kể đến.” (Nhơn t́nh ấm lạnh, tr 25)

           - “Thằng Phùng với một người nữa Thị Tố không biết tên, đương ngồi chàng háng ngoài hàng tư” (Con nhà nghèo, tr 52)

- “Mợ dằn ḷng nhịn thua mà coi bộ tức giận lung lắm “ ( Con nhà nghèo, tr155)

 

2.2.2  Nhiều từ địa phương nếu không dựa vào văn cảnh hoặc nếu không có vốn từ địa phương Nam bộ th́ sẽ rất khó hiểu. Chúng ta thử so sánh một số từ địa phương trong tiểu thuyết của Hồ Biểu Chánh với những từ ngữ có nghĩa tương đương của tiếng Việt toàn dân sẽ thấy rơ điều đó.

- đụng: nam nữ lấy nhau

- để vợ, để chồng: li dị

- ḍm, coi: xem

- bắt xén: nhen nhúm, bắt đầu

- ể ḿnh: bệnh

- ám sát: bám theo

- trọng: khá lớn

- day mặt: quay mặt

- ráng: cố gắng

- : ngờ

- bận đi, bận về: chuyến đi, chuyến về

- riết: nhanh

- xăng xớm: (đi) mau

- xấp xải: bay qua bay lại

- trằn: giữ lại, níu lại...

Lớp từ này thường được sử dụng trong ngôn ngữ đối thoại nhằm miêu tả tâm lí và khắc hoạ tính cách nhân vật.

 

2.2.3 Hồ Biểu Chánh đă khai thác triệt để lớp khẩu ngữ Nam bộ. Từ khẩu ngữ không chỉ xuất hiện trong lời đối thoại giữa các nhân vật mà có được nhà văn dùng khi miêu tả hay thuật truyện. Hàng loạt các từ khẩu ngữ sau đây đă được tác giả sử dụng trong nhiều tác phẩm của ḿnh: buồn nghiến, đầy nhóc, dịu nhĩu,  tṛn v́n, mừng quưnh, sáng bét, chết điếng, rộng họng, bóp tai, đả nư, buồn so, dụm năm dụm ba, cụt ng̣i, cụt vốn, thúi lắm, hỉ mũi, giả đ̣, xụi lơ, chút đỉnh, xài, một đồng điếu cũng không loại, cái việc sập nhà sập cửa, ...

Ví dụ: “ Con Quyên ra đi th́ ḷng mừng khấp khởi, miệng chúm chím cười. Tuy nó mặt đồ vải bô, song mặt nó trắng tươi môi nó đỏ ḷm, g̣ má nó tṛn v́n, chân mày nó nhỏ mứt, bàn tay nó dịu nhĩu, tướng nó đi khoan thai.” (Cha con nghĩa nặng, 109).

C̣n đây là lời của nhân vật: “Bên Tây nhà giàu họ xài tiền đúng lắm, nhằm chuyện bao nhiêu họ cũng không tiếc, c̣n không nhằm chuyện, dầu một đồng điếu họ cũng không loại, chớ không phải họ xài như ḿnh vậy đâu” (Khóc thầm, tr 66).

Và với lời thuật truyện tác giả cũng dùng từ khẩu ngữ, điều mà nhiều nhà văn ít khi vận dụng: “Trần Văn Sửu nín khe, bỏ đi thẳng vô nhà bếp. Anh ta thấy bếp núc lạnh tanh, mà sắc mặt chẳng có một chút giận nào hết. Anh ta xách nồi đi xúc gạo đem vo, rồi nhúm lửa bắt lên mà nấu. Thị Lựu không hề léo vô bếp.” (Cha con nghĩa nặng, tr 7)...

Đưa từ khẩu ngữ vào tác phẩm văn chương, đó là một sự thay đổi lớn về quan niệm sáng tác. Trước thế kỉ XX, các nhà văn nhà thơ thường chú trọng đến yếu tố ngôn ngữ. Đối với họ, ngôn ngữ văn chương cần phải qua sự sàng lọc cẩn thận. Càng “cầu ḱ bóng bẩy “ sẽ càng “trang trọng đài các” như thế mới “Lời lời châu ngọn hàng hàng gấm thêu”. Cùng thời với Hồ Biểu Chánh, nhiều tác giả khác như Hoàng Ngọc Phách, Nguyễn Bá Học, Phạm Duy Tốn, Nguyễn Trọng Thuật... vẫn giữ cung cách gọt giũa cẩn thận từng câu chữ. V́ thế họ chưa tạo được nét mới về ngôn ngữ qua sáng tác của ḿnh. Ngôn ngữ trong tác phẩm của họ có điểm chung là xa lạ với tiếng nói hàng ngày của quần chúng, rất kiểu cách, cầu ḱ. Sự xuất hiện của từ khẩu ngữ với tần số không nhỏ đă làm cho tiểu thuyết Hồ Biểu Chánh có sự gần gũi, quen thuộc với công chúng b́nh dân. Người đọc có cảm giác như được nghe chính tiếng nói của ḿnh, được chia sẻ, được cảm thông. V́ thế, tiểu thuyết Hồ Biểu Chánh đă mang màu sắc của chính cuộc sống thực. Đưa từ khẩu ngữ vào tác phẩm văn chương đă trở thành sở trường của Hồ Biểu Chánh. Đây là một đóng góp đáng kể đối với văn học hồi đầu thế kỉ, Hồ Biểu Chánh đă “khẳng định có thể dùng khẩu ngữ của dân chúng Nam bộ làm cơ sở để xây dựng tác phẩm văn chương” [3, 313].

Tuy nhiên, trong quá tŕnh sử dụng khẩu ngữ, Hồ Biểu Chánh để lại một ít hạn chế. Ông chưa chú ư sàng lọc, chưa tập hợp những tinh hoa của khẩu ngữ Nam bộ. Không ít trường hợp, khi đưa khẩu ngữ vào tác phẩm, Hồ Biểu Chánh tỏ ra dễ dăi, vô t́nh làm ảnh hưởng đến giá trị thẩm mĩ của ngôn ngữ văn chương trong tác phẩm nghệ thuật, ít nhiều gợi lên tính chất thông tục hoá. Ví dụ:

- “Tao đánh bài, dầu có thua đi nữa, th́ tao thua tiền của tao, chứ phải tiền bạc của cha mẹ mày chở đến đây hay sao mà mày nói? Tao là con nhà giàu, từ nhỏ đến lớn tao ăn xài bài bạc chơi đă quen rồi chứ phải quân ăn mày coi đồng bạc như cái bánh xe đâu. Mày có chê tao  th́ mày để tao ra rồi đi cưới vợ khác đi. Cha chả! Mày tưởng tao màng cái tuồng mặt mày lắm sao? Bực mày là đồ bỏ đa, đừng có làm phách?” (Thầy Thông ngôn, tr 83).

- “Hả! Mày nói sao? Cái léo mẹ tiên tổ mày, mày hư, mày thúi, mày làm đĩ lấy trai ở đâu cho có chửa, bụng thè lè, rồi bây giờ mày nói xán xă cho cháu tao hả? Cháu tao như rồng như phụng, c̣n mày là quân ăn mày, mày rửa đít cho nó cũng chưa được, sao mày dám nói như vậy?” (Nợ đời, tr 39)

Dường như Hồ Biểu Chánh muốn diễn tả thật cụ thể, sống động tính cách của những nhân vật phản diện. Bởi cách nói năng như trên thường được tác giả mớm vào cửa miệng của những kẻ độc ác, ích kỉ tham lam hay hư thân mất nết. Thế nhưng, vẫn có trường hợp không hẳn như vậy. Trong tác phẩm “Thầy thông ngôn”, tác giả miêu tả cô Sáu Lư là một cô gái khôn khéo, lanh lợi nhưng không kém phần nết na. Thế mà, có những đoạn văn viết về cô gái ấy hay thuật lại lời đối thoại của cô Sáu Lư vẫn có nhiều từ khẩu ngữ mang sắc thái thô thiển nặng nề. Ví dụ: “Cô đợi một hồi lâu không nghe thầy trả lời, cô mới đứng dậy hỉ mũi mà nói...” (trang 46) hay: “Thầy thúi lắm, làm trai như vậy nên lắt cái mặt mà quăng đi” (trang 48).

Đây là một đặc điểm chung của văn xuôi quốc ngữ Nam bộ hồi đầu thế kỉ XX. Không riêng ǵ Hồ Biểu Chánh, nhiều tác giả khác cũng có cách sử dụng từ khẩu ngữ như thế. Có lẽ đó là một tất yếu của giai đoạn giao thời khi văn học mới từ giă cung cách đài các, trang trọng, khuôn phép để tiến đến lối viết tự nhiên, gần gũi với quần chúng lao động. Mặc dù khi dùng từ khẩu ngữ, Hồ Biểu Chánh chưa đạt được sự thành thục khéo léo như Ngô Tất Tố, Nam Cao, Vũ Trọng Phụng, thế nhưng không ai có thể phủ nhận sự hiện diện thường xuyên của từ khẩu ngữ trên từng trang viết đă đưa tiểu thuyết Hồ Biểu Chánh đến gần với đông đảo công chúng b́nh dân. Tầm đón nhận của tiểu thuyết Hồ Biểu Chánh vừa rộng lớn, vừa lâu bền. Lời giải đáp cho thực tế ấy cũng không loại trừ việc sử dụng từ khẩu ngữ.

 

2.2.4. Từ láy không thể thiếu được khi nhà văn quan tâm đến giá trị biểu cảm của ngôn ngữ văn chương. Hồ Biểu Chánh không là một ngoại lệ. Ở tiểu thuyết của ông., chúng ta bắt gặp hàng loạt từ láy: láo liên, lựng khựng, om x̣m, trả treo, lằng nhằng, tả tơi, lơn tơn, lăng xăng, xó ró, nhùn nhục, trộ trạo, chơm bơm, chim bỉm, xẻn lẻn, riu ríu, ng̣n nghẻn, tèm lem, xẩn bẩn, bợ ngợ, ké né, lật đật, cằn rằn, nhăn nhín, trèo trẹo...

Những từ láy được Hồ Biểu Chánh dùng trong tác phẩm thường xuất hiện với tư cách là động từ hay phó từ. Có từ láy thuộc hệ thống ngôn ngữ toàn dân nhưng phần lớn là những từ được sử dụng trong phạm vi hẹp, phần nào mang tính thời đại. Nếu không đặt vào văn cảnh cụ thể sẽ khó giải thích được ư nghĩa của từ và những từ ấy đến nay không c̣n phổ biến, ngay cả trên vùng đất Nam bộ. Ví dụ:

- “Thu Hà thấy chồng, cô không ái ngại chi hết, có lúc cô đứng gần một bên chồng, có chuyện cô phải nói với chồng, mà dầu đứng gần hay nói chuyện cô cũng giữ tư cách tự nhiên, cô chẳng hề ké né, bợ ngợ” (Khóc thầm, trang 54)

- “Anh ta mặc một cái áo đen màu nhùng nhục, một cái quần vắn lai đứt tả tơi, đầu bịt trùm cái khăn rằn, miệng ngậm trầu một búng” (Cha con nghĩa nặng, trang 05)

- “Thu Hà thấy người già yếu đói rách, cô động ḷng nhưng v́ hồi sớm mai cho đến bây giờ cô cho người ta tiền hai lần, đều bị chồng trộ trạo, cô sợ cho nữa bị chồng rầy...” (Khóc thầm, trang 68)

- “Bổn tánh nó trầm tịnh, ít hay nói, ít hay cười, mà từ ngày mẹ nó chết, cha nó mất rồi, th́ nó càng chim bỉm không chịu chơi bời với con nít lối xóm...” (Cha con nghĩa nặng, trang 91)

Góp phần quan trọng vào việc tăng thêm tính h́nh tượng, sinh động và cụ thể trong việc việc miêu tả ngoại h́nh, tâm lí, tính cách nhân vật... là lớp từ láy tư. Lớp từ này xuất hiện với một tần số khá cao và cũng góp phần tạo nên phong cách ngôn ngữ Hồ Biểu Chánh như: lao nhao lố nhố, dấp dính dấp dưới, chộn rộn chàng ràng, hun trơ hun trất, lu ầm lu ́, xui xị xụi lơ, lăng xăng lít xít, chết ngắt chết ngỏm, bù xa bù xích,... Ví dụ:

- “Lúc mặt trời chen lặn, tại nhà ga xe lửa Tân An, thiên hạ lao nhao lố nhố, người đợi xe đi Mỹ Tho th́ sắp soạn hành lí lăng xăng, kẻ chực rước người ở Sài G̣n về th́ đi tới đi lui lóng nhóng.” (Thầy Thông ngôn, trang 460)

- “Thầy thông Phong nằm mê sảng, bứt áo giựt tóc, một lát chờn vờn ngồi dậy muốn chạy, miệng nói tía lia, song thầy nói dấp dính dấp dưởi, không biết nói việc ǵ...” (Thầy Thông ngôn, tr 551)

- “Lúc ấy, Trần Văn Sửu mất trí khôn, hết nghị lực máu trong tim chảy th́nh thịch, nước trong con mắt tuôn ṛng ṛng, đứng xui xị xụi lơ, không nói được mốt tiếng chi hết.” (Cha con nghĩa nặng, trang 177-178)

Những từ láy xuất hiện trong tiểu thuyết Hồ Biểu Chánh thể hiện rơ tính chất phương ngữ. Cùng với từ khẩu ngữ, từ địa phương, từ láy đă góp phần tô đậm sắc thái Nam bộ ở ngôn ngữ tiểu thuyết Hồ Biểu Chánh.

 

2.1.5. Hồ Biểu Chánh c̣n đưa vào tác phẩm nhiều thành ngữ. Lớp từ này được tác giả vận dụng rất đa dạng và phong phú. Câu văn xuôi của Hồ Biểu Chánh có tính thuyết phục là nhờ vào thành ngữ. Thành ngữ cũng góp phần không nhỏ trong việc biểu đạt t́nh cảm, ghi lại cuộc sống của người Nam bộ bằng cách diễn đạt riêng vừa h́nh tượng, vừa khái quát tạo cho câu văn thêm phần hấp dẫn, thú vị có sức thuyết phục cao. Cách vận dụng thành ngữ của tác giả rất uyển chuyển, linh hoạt, hợp lí, không g̣ bó và với nhiều h́nh thức khác nhau: vận dụng nguyên mẫu và cải biến.

Ta bắt gặp trong tác phẩm của ông những thành ngữ ở dạng nguyên mẫu như: tan xương nát thịt, sóng dập gió dồi, trôi sông lạc chợ, no cơm ấm áo, mặt dạn mày dày, lên xe xuống ngựa, ngậm đắng nuốt cay, đủ lông đủ cánh, chịu đấm ăn xôi,...

Nét riêng trong sự vận dụng và mang đậm tính Nam bộ thể hiện rơ qua những thành ngữ được dùng ở dạng cải biến.

+ Cải biến cách phát âm: Tu nhơn tích đức (tu nhân tích đức), nhắm mắt đưa chơn (nhắm mắt đưa chân),  tâm đầu ư hiệp (tâm đầu ư hợp), cải tử hườn sanh (cải tử hoàn sinh)... Ví dụ:

- “Tôi tu nhơn tích đức không muốn sanh sự.” ( Ai làm được, tr 439)

- “Cha cấm tuyệt không cho thấy được nữa, vậy th́ chàng phải nhắm mắt đưa chơn mà bước vào đường đời.” (Chúa tàu Kim Quy, tr 30)

+ Cải biến từ vựng: ghẹo nguyệt giỡn hoa (ghẹo nguyệt trêu hoa), ma cũ ăn hiếp ma mới (ma cũ bắt nạt ma mới), chuột rớt trong hũ nếp (chuột sa hũ nếp), dầm sương gội nắng (dầm sương dăi nắng), xót ruột bầm gan (bầm gan tím ruột),  nưng khăn sửa trấp (nâng khăn sửa túi), ... Ví dụ:

- “Ba Thời bổn tánh hà tiện... nuôi gà nuôi vịt trông cho nó lớn đặng bán...nay biểu chồng th́ xót ruột bầm gan.” (Cay đắng mùi đời, trang 181)

- Nếu anh chẳng chê em là gái hư hèn, anh khứng cho em nưng khăn sửa trấp, th́ em nguyện.” (Chúa tàu Kim Quy, trang 156)

Hồ Biểu Chánh đă chắt lọc và sáng tạo lại lời ăn tiếng nói của nhân dân và vận dụng vào trong sáng tác của ḿnh. Điều này không chỉ góp phần làm nên phong cách ngôn ngữ trong tiểu thuyết của ông mà c̣n là sự đóng góp của nhà văn vào kho tàng ngôn ngữ dân tộc.

 

2.1.6.  Hồ Biểu Chánh là một nhà văn có sự thận trọng trong việc sử dụng từ ngữ, chính ông đă tạo cho ngôn ngữ trong văn xuôi có được những đặc điểm mới, đưa văn xuôi Quốc ngữ đi vào con đường hiện đại. Kể từ Hồ Biểu Chánh, ngôn ngữ trong tác phẩm văn chương và ngôn ngữ trong cuộc sống không c̣n khoảng cách như trước kia. Đó là đóng góp to lớn, là thành công đáng ghi nhận của Hồ Biểu Chánh. Tuy nhiên, đọc tiểu thuyết Hồ Biểu Chánh người đọc đă phải xuưt xoa, tiếc nuối v́ trong bát cơm trắng trong đôi khi c̣n rơi rớt mấy hạt sạn vô t́nh. Có nhiều từ ngữ Hồ Biểu Chánh đưa vào tác phẩm chưa thật hợp nghĩa khi đặt vào văn cảnh cụ thể. Thậm chí có những từ chưa đúng.

Ví dụ: “Mày đặt chuyện bậy bạ! Nó lấy ai đâu có chửa. Sao mày dám nói xán xả cho cậu Hai. “ (Từ “xán xả” đặt vào câu văn trên chưa thật hợp nghĩa. Dụng ư của tác giả muốn diễn tả lời của nhân vật này cho nhân vật kia đă áp đặt tội lỗi vào người khác.)

- “Thu Vân nghe như vậy lại càng ráng sức lo lắng hơn nữa, đă lo tráo trở vật ăn cơm, mà trưa lại c̣n làm bánh, tối lại c̣n chưng trứng gà, đặng cho ông ăn giải lao.” (Chút phận linh đinh, tr 177) (Từ “tráo trở” mang ư nghĩa âm tính, thường dùng để chỉ một hành động xấu. Với việc làm của Thu Vân không thể dùng từ “tráo trở” để miêu tả)

- “ T́nh cảm của em nặng nề, xâu xia, nó có thể đè em, nhận em chết được.” (Từ xâu xia” không thể dùng để diễn đạt t́nh cảm).

C̣n nhiều trường hợp khác, mà người viết chưa thống kê hết trong bài viết này đă cho thấy hạn chế đáng tiếc về mặt từ ngữ trong ngôn ngữ tiểu thuyết Hồ Biểu Chánh.

 

2.3. Cú pháp cũng là một yếu tố quan trọng thể hiện đặc điểm ngôn ngữ tiểu thuyết Hồ Biểu Chánh. Câu văn xuôi của ông thể hiện nét đặc trưng của văn học giai đoạn giao thời: cái cũ, cái mới đan xen nhau. Hồ Biểu Chánh chưa thể “đoạn t́nh  với câu văn biền ngẫu, có vần có đối. Nhưng mong muốn đổi mới đă thôi thúc ông tiếp nhận lối văn “trơn tuột như lời nói thường”. Ngay trong cùng một tác phẩm, tiểu thuyết của Hồ Biểu Chánh vẫn có hai cách viết văn như đă nói. Ví dụ tác phẩm “Con nhà nghèo” có nhiều đoạn được viết h́nh thức tự nhiên như lời ăn tiếng nói của người Nam bộ: “Bà chủ cười mà nói: Người đáng lắm mà, không ham tiền mà cũng không mê gái. Hôm trước ông chủ đi qua nhà việc, ổng về ổng trầm trồ khen hoài, ổng nói con gái Chợ Giồng muốn quan kinh lí nên áp theo ve văn mà ổng không thèm đứa nào hết. Bà Hương bộ Bảy đem lo cho ổng đến hai trăm đồng bạc mà ổng không thèm ăn, ổng kêu ổng trả lại. C̣n nhỏ tuổi mà tánh t́nh như vậy đó. Tôi nói con Thục đụng ổng nó có phước mà” (Trang 294).

Nhưng cũng không hiếm những đoạn văn có sự nhịp nhàng đăng đối như lối văn biền ngẫu: “Một buổi chiều, trời mưa mới dứt hột, nào trong rào cây cỏ c̣n loi ngoi, trước sân nước ứa đọng thành vũng. Mấy đám ruộng nào lúa cấy đă bén rồi th́ phơi mào xanh lét, c̣n mấy đám ruộng mới cấy vài bữa, th́ màu c̣n vàng khè.

Trong bưng, ễnh ương nối nhau mà khóc, tiếng nghe uềnh oang. Sau hè nhái nhỏ đua nhau mà la, tiếng nghe lét chét.” (trang 168)

Những đoạn văn cầu ḱ, trau chuốt đă điểm xuyết cho lối văn dung dị tự nhiên “trơn tuột như lời nói thường”. Có lẽ Hồ Biểu Chánh đă rút ra bài học kinh nghiệm từ trường hợp của Nguyễn Trọng Quản. “Truyện Thầy Lazarô Phiền” ra đời với lối văn trơn tuột như lời nói thường đă làm nên một bước đột phá trong văn học. Nhưng độc giả đương thời chưa chấp nhận cách viết văn thoát khỏi hẳn cách viết truyền thống. Chính cách viết của Hồ Biểu Chánh đă mang đến cho  người đọc lúc bấy giờ một món ăn tinh thần rất hợp thị hiếu.

Câu văn giản dị tự nhiên, b́nh dân trong tiểu thuyết Hồ Biểu Chánh đă góp phần làm nên sự thành công của tác giả khi thể hiện tính cách của con người Nam bộ: bộc trực, thẳng thắn, nói năng ít văn chương rào đón. Họ nghĩ sao nói vậy, nói thẳng ruột ngựa, không thích che đậy dấu diếm. Câu văn trơn tuột như lời nói thường đă h́nh thành nên một văn cách riêng của Hồ Biểu Chánh. Trong giai đoạn giao thời của lịch sử văn học Việt Nam, nó đă đóng góp không ít cho quá tŕnh hiện đại hoá văn chương, v́ đă “đập vỡ cái khuôn khổ văn chương đài các.” [2, 567]

Những câu văn nhịp nhàng, đăng đối đă chứng minh hiện đại hoá không có nghĩa là đoạn tuyệt với truyền thống. Sự thay thế dần dần, đó là cách giải quyết sáng suốt nhất sẽ đáp ứng được yêu cầu của thời đại. Nhưng thật đáng tiếc, v́ những năm về sau, nhất là sau năm 1932, Hồ Biểu Chánh vẫn giữ nguyên cách viết như thế. Do đó, ở phương diện này tiểu thuyết Hồ Biểu Chánh đă không theo kịp xu thế phát triển chung của văn học dân tộc.

 

3. Khi viết tiểu thuyết, Hồ Biểu Chánh không có dụng ư làm cách mạng về nghệ thuật trong văn chương. Nhưng những cố gắng cách tân cùng với sự khéo léo của ông đă biến ngôn ngữ đậm phong cách khẩu ngữ trở thành ngôn ngữ văn chương. Ngôn ngữ tiểu thuyết Hồ Biểu Chánh đánh dấu sự khởi đầu cho bước phát triển của câu văn xuôi hiện đại. Qua ngôn ngữ tiểu thuyết Hồ Biểu Chánh, chúng ta thấy rơ ông là một nhà văn đă miệt mài “lao động ngôn ngữ”, ông viết văn “có trách nhiệm với nghề nghiệp”. Hồ Biểu Chánh đă biết chọn cho ḿnh một con đường ngắn nhất để đi đến thành công, đó là: “Học tập ngôn  ngữ dân tộc, học tập văn chương của các nhà văn đi trước”. V́ thế ông đă “viết nên những tác phẩm có giá trị về nghệ thuật ngôn từ.” [1,176].

------------------

Tài liệu tham khảo:

1. Nguyễn Văn Hạnh, Huỳnh Như Phương - Lí luận văn học- vấn đề và suy nghĩ - Nhà xuất bản Giáo dục, năm 1999.

 2. Thanh Lăng - Bảng lược đồ Văn học Việt Nam - Nhà xuất bản Tŕnh Bầy, năm 1967.

3. Cù Đ́nh Tú - Phong cách học và đặc điểm tu từ tiếng Việt - Nhà xuất bản Giáo dục, năm 2003.

 

 

©2006 hobieuchanh.com